Trật tự Vécxai - Oasinhtơn được hình thành như thế nào

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit.Morbi adipiscing gravdio, sit amet suscipit risus ultrices eu.Fusce viverra neque at purus laoreet consequa.Vivamus vulputate posuere nisl quis consequat.

Create an account

Đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 - 1933) là

Đâu không phải là ý kiến đúng khi nhận xét về trật tự Vécxai-Oasinhtơn?

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự sụp đổ của Trật tự Véc-xai – Oa-sinh-tơn là

Tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 là

Đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 - 1933) là

Câu 1

Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước tư bản đã tổ chức Hội nghị hòa bình ở Vécxai (1919-1920) và Oa-sinh-tơn (1921-1922) đã kí kết hòa ước và các hiệp ước phân chia quyền lợi. Một trật tự thế giới mới được thiết lập thông qua các văn kiện được kí ở Vécxai và Oa-sinh-tơn, thường được gọi là hệ thống Vécxai-Oasinhtơn.

Trật tự Vécxai - Oasinhtơn phản ánh tương quan lực lượng mới giữa các nước tư bản. Các nước thắng trận, trước hết là Anh, Pháp, Mĩ, Nhật Bản, giành được nhiều quyền lợi về kinh tế và xác lập sự áp đặt, nô dịch đối với các nước bại trận, đặc biệt là các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Đồng thời, ngay giữa các nước tư bản thắng trận cũng nảy sinh những bất đồng do mâu thuẫn về quyền lợi. Chính vì thế, quan hệ hòa bình giữa các nước tư bản trong thời gian này chỉ là tạm thời và mỏng manh.

Nhằm duy trì trật tự thế giới mới, Hội Quốc liên-một tổ chức chính trị mang tính quốc tế đầu tiên-được thành lập với sự tham gia của 44 nước thành viên.

Câu 2

Chủ nghĩa phát xít là chủ nghĩa độc tài luôn cho rằng mình là ưu việt nhất và có quyền sinh sát để trên toàn thế giới chỉ còn lại chủng người ưu việt nhất. Đây có thể coi là bước cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc.

Phát xít chủ tương kiểm soát kinh tế, văn hóa, độc đảng và đàn áp. Chúng sẵn sàng sử dụng vũ lực và chiến tranh trong mọi quan hệ quốc tế hay quốc nội. Vì thế nhắc đến chủ nghĩa phát xít thì chiến tranh là một điều không thể tránh khỏi.

1. Thiết lập trật tự thế giới mới theo hệ thống Vécxai - Oasinhtơn

- Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước tư bản đã tổ chức Hội nghị hòa bình ở Vécxai (1919- 1920) và Oa-sinh-tơn (1921 - 1922) để phân chia quyền lợi. Một trật tự thế giới được thiết lập mang tên hệ thống Vécxai - Oasinhtơn.

- Hệ thống Véxai - Oasinh tơn mang lại quyền lợi nhiều nhất cho các nước thắng trận. Anh, Pháp, Mĩ xác lập sự nô dịch, áp đặt với các nước bại trận, gây nên mâu thuẫn sâu sắc giữa các nước đế quốc.

- Để duy trì trật tự thế giới mới, Hội Quốc Liên được thành lập với sự tham gia của 44 nước.

2. Cao trào cách mạng  1918 - 1922 ở các nước tư bản. Quốc tế Cộng sản

- Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, một cao trào cách mạng đã bùng nổ ở hầu hết các nước tư bản châu Âu trong những năm 1918 – 1923.

- Đỉnh cao là sự thành lập Cộng hòa Xô viết  Hung-ga-ri (3/1919), ở Ba-vi-e (Đức, tháng 4/1919).

- Nhiều Đảng Cộng sản ra đời ở các nước (Đức, Áo, Hung-ga-ri, Ba Lan, Phần Lan, Ác-hen-ti-na.)  đòi hỏi phải có một tổ chức quốc tế lãnh đạo theo một đường lối đúng đắn.

- Với vai trò tích cực của Lê-nin, ngày 2/3/1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập.

- Từ 1919 - 1943, Quốc tế Cộng sản tiến hành 7 lần đại hội, vạch ra đường lối cách mạng phù hợp với từng thời kỳ phát triển của cách mạng thế giới.

+ Tại đại hội lần II (1920), Quốc tế Cộng sản đã thông qua “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” do Lê-nin khởi thảo.

+ Tại đại hội VII (1935), Quốc tế Cộng sản đã chỉ rõ nguy cơ của chủ nghĩa phát xít và kêu gọi các Đảng Cộng sản tích cực đấu tranh thành lập các Mặt trận thống nhất công nhân nhằm mục tiêu chống phát xít, chống chiến tranh.

- Năm 1943, Quốc tế Cộng sản tự giải tán do tình hình thế giới thay đổi nhưng Quốc tế Cộng sản đã có công lao to lớn trong việc thống nhất và phát triển phong trào cách mạng thế giới.

3. Cuộc khủng hoảng kinh tế 1923 - 1933 và hậu quả của nó

- Tháng 10/1929, khủng hoảng kinh tế bùng nổ ở Mĩ sau đó lan ra các nước tư bản chủ nghĩa và kéo dài đến năm 1933. Kinh tế các nước tư bản bị tàn phá nặng nề, đẩy hàng trăm triệu người (công nhân, nông dân và gia đình) vào tình trạng đói khổ.

Những cuộc đấu tranh, biểu tình diễn ra liên tục khắp cả nước, lôi kéo hàng triệu người tham gia.

- Để đối phó lại cuộc khủng hoảng kinh tế, trong khi các nước Mĩ, Anh, Pháp tiến hành cải cách kinh tế - xã hội thì các nước như Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản… lại tìm kiếm lối thoát bằng hình thức thống trị mới.

- Quan hệ giữa các cường quốc tư bản ngày càng phức tạp và dần hình thành 2 khối đế quốc. Một bên là Mĩ, Anh, Pháp và một bên là Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản. Cuộc chạy đua vũ trang giữa 2 khối báo hiệu nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới.

4. Phong trào Mặt trận nhân dân chống phát xít và nguy cơ chiến tranh

- Dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, phong trào đấu tranh chống phát xít, chống chiến tranh lan rộng ở nhiều nước. Mặt trận nhân dân chống phát xít được thành lập ở nhiều nước như Pháp, I-ta-li-a, Tiệp Khắc, Hi Lạp, Tây Ban Nha...

- Tháng 5/1936, Mặt trận nhân dân Pháp giành thắng lợi trong tổng tuyển cử, bảo vệ được nền dân chủ, Pháp thoát khỏi những hiểm họa của chủ nghĩa phát xít.

- Tháng 2/1936, ở Tây Ban Nha, Mặt trận nhân dân giành thắng lợi trong tổng tuyển cử nhưng các thế lực phát xít do Phran-cô cầm đầu đã gây nội chiến, thủ tiêu nền cộng hòa.


Page 2

Trật tự Vécxai - Oasinhtơn được hình thành như thế nào

SureLRN

Trật tự Vécxai - Oasinhtơn được hình thành như thế nào

Chuyên đề:SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỤP ĐỔ CỦA TRẬT TỰ VÉC XAI - OASINHTƠNSAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤTQuan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919-1939) diễn biếnphức tạp, gắn liền với sự tồn tại của trật tự Véc xai- Oasinhtơn. Vậy, trật tự Vécxai- Oasinhtơn đã hình thành và sụp đổ như thế nào sau Chiến tranh thế giới thứnhất? Nó có liên hệ gì với sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai? Quan hệquốc tế trong những năm 1919-1939 liệu có phải là giai đoạn hưu chiến giữa haicuộc chiến tranh thế giới? Để tìm ra lời giải cho những thắc mắc này, chúng tacùng phân tích.1. Sự hình thành trật tự Véc xai - Oasinhtơn1.1. Tương quan lực lượng giữa các nước sau chiến tranh thế giới thứnhấtChiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) kết thúc đã mở ra một thời kỳ mớitrong quan hệ quốc tế. Kết cục của chiến tranh đã tác động mạnh mẽ đến tình hìnhthế giới đặc biệt là đối với châu Âu.- Chiến trường chính của cuộc chiến tranh diễn ra ở châu Âu, vì thế cáccường quốc châu Âu đều bị suy yếu. Hai nước tư bản lâu đời Anh và Pháp tuychiến thắng nhưng nền kinh tế bị kiệt quệ sau chiến tranh và trở thành con nợ củaMĩ. Italia, một đồng minh ốm yếu trong chiến tranh, bị xâu xé bởi cuộc đấu tranhgay gắt trong nước và khủng hoảng kinh tế. Ba đế quốc rộng lớn ở châu Âu là Nga,Đức, Áo - Hung lần lượt sụp đổ. Đế quốc Đức và Áo - Hung bại trận, bị tàn phánặng nề và những cuộc cách mạng bùng nổ đã đẩy các nước này vào tình trạngkhủng hoảng nghiêm trọng.- Trong khi đó các cường quốc ở ngoài châu Âu như Mỹ và Nhật, không bịtàn phá bởi chiến tranh, đã vươn lên nhanh chóng, vượt qua nhiều nước tư bản ởchâu Âu. Tương quan lực lượng giữa các cường quốc thay đổi rõ rệt, ngày càng bấtlợi cho các nước tư bản châu Âu vốn chiếm vị trí trung tâm trong thế giới tư bảnchủ nghĩa trước đây.- Đồng thời thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 cũng tạo ramột chuyển biến căn bản của tình hình thế giới. Chủ nghĩa tư bản không còn tồn tạinhư một hệ thống duy nhất thống trị thế giới nữa. Sự tồn tại của Nhà nước xã hộichủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đã trở thành một thách thức to lớn đối với thế giớitư bản chủ nghĩa.Trong bối cảnh đó, để giải quyết những vấn đề do chiến tranh đặt ra, các hộinghị hoà bình được triệu tập. Hệ thống hoà ước Versailles và sau đó là Hệ thốnghiệp ước Washington đã được ký kết nhằm tổ chức lại thế giới sau chiến tranh, phùhợp với tương quan lực lượng mới.1.2. Hệ thống hòa ước Véc xai đối với các nước bại trậnHai tháng sau khi chiến tranh kết thúc, ngày 18 - 1 - 1919 các nước thắngtrận đã họp Hội nghị hoà bình tại Vécxai (ngoại ô thủ đô Pari của Pháp). Tham dựhội nghị có đại biểu của 27 nước thắng trận. Năm cường quốc tham gia điều khiểnhội nghị là Mỹ, Anh, Pháp, Italia và Nhật Bản, nhưng thực sự nắm quyền quyếtđịnh hội nghị là Tổng thống Mĩ Uyn-xơn, Thủ tướng Anh Lôi Gioóc và Thủ tướngPháp Clê- măng-xô. Đại biểu của các nước bại trận cũng có mặt để kí vào các hoàước do các nước thắng trận quyết định. Riêng nước Nga không được mời tham giahội nghị. Vấn đề Nga không được đưa vào chương trình nghị sự nhưng nó là nỗiám ảnh đối với các nước đế quốc. Ngay từ trước khi hội nghị bắt đầu, các nước đãthảo luận vấn đề Nga và đi đến thỏa thuận sẽ tăng cường can thiệp vũ trang và ủnghộ lực lượng phản động để chống lại chính quyền Xô viết.Hội nghị Vécxai kéo dài gần 2 năm và diễn ra hết sức gay go, quyết liệt vìcác nước cường quốc thắng trận đều có những mưu đồ tham vọng riêng trong việcphân chia quyền lợi và thiết lập trật tự thế giới sau chiến tranh.Là nước đăng cai hội nghị, Pháp mong muốn làm suy kiệt hoàn toàn nướcĐức cả về quân sự và kinh tế, nhằm đảm bảo an ninh và địa vị bá chủ của Pháp ởlục địa châu Âu.Nhưng Anh và nhất là Mĩ lại chủ trương phải duy trì một nước Đức tươngđối mạnh để đối phó với phong trào cách mạng đang lên cao ở các nước châu Âuvà âm mưu bá chủ châu Âu của Pháp. Đó là chính sách “cân bằng lực lượng” ởchâu Âu mà Mĩ rất ủng hộ. Ngay từ đầu năm 1918, một năm trước khi chiến tranhkết thúc, Tổng thống Mĩ Uyn-xơn đã đưa ra Chương trình 14 điểm nhằm lập lạihoà bình và tổ chức lại thế giới sau chiến tranh theo quan điểm của Mĩ.Chương trình 14 điểm bao gồm:1. Đưa ra những hiệp định rõ ràng, không bí mật.2. Tự do thông thương của các đại dương.3. Bãi bỏ các rào cản kinh tế.4. Cắt giảm vũ khí.5. Dàn xếp các yêu sách của thuộc địa theo quyền lợi của các dân tộc bị trị.6. Quân Đức rút khỏi Nga, quyền tự do về chính sách quốc gia cho Nga.7. Quân Đức rút khỏi Bỉ, Bỉ là nước độc lập.8. Quân Đức rút khỏi Pháp, Alsace-Loraine thuộc về Pháp.9. Điều chỉnh biên giới Italia.10. Các dân tộc của đế quốc Áo có quyền tự quyết.11. Quân Đức rời khỏi Rumani, Serbia và Montenegro, Serbia có một lối đira biển.12. Các dân tộc của đế quốc Ottoman có quyền tự quyết, eo biểnDardanelless cho phép tàu của mọi quốc gia.13. Ba Lan độc lâp, có một lối đi ra biển.14. Thành lập một tổ chức quốc tế để giữ gìn hòa bìnhVới những lời lẽ bóng bảy, bề ngoài đề cao hoà bình, dân chủ, Chương trình14 điểm thể hiện mưu đồ xác lập địa vị bá chủ thế giới của Mĩ, làm suy yếu các đốithủ cạnh tranh Anh, Pháp và Nhật Bản, tạo cơ hội để Mĩ vượt khỏi sự biệt lập củachâu Mĩ, vươn ra bên ngoài bằng sức mạnh kinh tế và ảnh hưởng chính trị chứkhông phải bằng con đường bành trướng lãnh thổ như các cường quốc khác.Chương trình 14 điểm của Uyn-xơn được các nước coi là nguyên tắc để thảo luậntại Hội nghị VécxaiCác nước Italia, Nhật Bản cũng đưa ra những tham vọng của họ. Nhật Bảnđòi được thay thế Đức nắm chủ quyền bán đảo Sơn Đông của Trung Quốc, dự địnhchiếm vùng viễn Đông của nước Nga Xô Viết, mở rộng ảnh hưởng ở khu vực châuá - Thái Bình Dương. Italia muốn mở rộng lãnh thổ xuống vùng Địa Trung Hải vàvùng Balkan. Các nước nhỏ như Ba Lan và Rumani cũng có những yêu cầu mởrộng lãnh thổ của mình.Mâu thuẫn và cuộc đấu tranh giữa các nước tham dự Hội nghị Vécxai, đặcbiệt là giữa các cường quốc trở nên gay gắt, có tới 3 lần Hội nghị có nguy cơ tanvỡ. Cuối cùng vào tháng 3/1919, các văn kiện của Hội nghị đã lần lượt được kýkết.Hoà ước Vécxai với Đức.Hoà ước Vécxai với Đức kí ngày 28 - 6 - 1919, văn kiện quan trọng nhất củahệ thống hoà ước Versailles, đã quyết định số phận của nước Đức. Hoà ước khẳngđịnh nước Đức bại trận phải chịu trách nhiệm về “tội ác gây chiến tranh”, do đóphải trả lại cho Pháp hai tỉnh Andát-Loren (mà Pháp cắt nhượng cho Đức trongcuộc chiến tranh Pháp - Phổ 1870 - 1871); nhường cho Bỉ khu Eupen Malmedy vàMoresnet; cắt cho Đan Mạch vùng Bắc Sleswig - tùy kết quả của cuộc trưng cầu ýdân - mà Thủ tướng Đức Bismarck chiếm được trong cuộc chiến tranh Đức - ĐanMạch 1864; cắt cho Ba Lan vùng Pomerania và một “hành lang chạy ra biển”...,một số nơi khác tùy thuộc vào trưng cầu ý dân, mà Đức đã chiếm được trong cuộcphân chia Ba Lan vào thế kỷ XVIII. Đồng thời, thành phố cảng Dantzig (nay làGdansk, Ba Lan) và đảo Hengôlan sẽ do Hội quốc liên quản trị. Đây là một trongnhững điều khoảng khiến người dân Đức tức giận nhất, họ không chỉ bất mãn vìviệc tách vùng Đông Phổ ra khỏi nước Đức bằng một "hành lang" cho Ba Lanthông ra biển, mà còn ghét bỏ người Ba Lan - người mà họ xem như "người hạđẳng" - không hơn, không kém. Người Đức cũng giận dữ không kém khi thấy Hòaước (điều 231) buộc tội họ là nước duy nhất phải chịu trách nhiệm chính là ngườigây ra cuộc chiến này, và đòi họ phải giao Wilhelm II (người phát động cuộcchiến) và khoảng 800 tội phạm chiến tranh khác cho các nước Hiệp ước để họ xétxử, còn các nước đế quốc khác thì dường như "vô tội". Ngoài ra, hạt Sarre của Đứccũng giao cho Hội Quốc liên quản trị trong thời hạn 15 năm, các mỏ than ở đâythuộc về Pháp. Sau thời hạn này sẽ tiến hành trưng cầu ý dân để quyết định hạtSarre sẽ thuộc về nước nào (sau cuộc trưng cầu ý dân năm 1935, hạt Sarre đã thuộcvề nước Đức). Đồng thời toàn bộ hệ thống thuộc địa của Đức đều trở thành đất uỷtrị của Hội Quốc liên và được giao cho các cường quốc Anh, Pháp, Nhật, Bỉ... quảnlí.Nước Đức còn bị hạn chế vũ trang đến mức thấp nhất: chỉ được giữ lại100.000 bộ binh với vũ khí thông thường, không có không quân, không có hạm độitầu ngầm và thiết giáp hạm. Vùng tả ngạn sông Ranh (gần biên giới Pháp) và 3 đầucầu vùng hữu ngạn sẽ do quân đội Đồng minh đóng trong vòng 15 năm và rút dầnquân nếu Đức thi hành hoà ước. Vùng hữu ngạn sông Ranh với chiều rộng 50 kmsẽ trở thành khu phi quân sự. Nước Đức còn phải bồi thường chiến tranh cho cácnước thắng trận số tiền (do Hội nghị Luân đôn tháng 4 - 1921 qui định) là 132 tỉMác vàng, trong đó trả cho Pháp: 52% Anh 22%, Italia: 10%, Bỉ: 8%... Với hoàước này, nước Đức mất 1/8 đất đai, gần 1/12 dân số, 1/3 mỏ sắt, gần 1/3 mỏ than,2/5 sản lượng gang, gần 1/3 sản lượng thép và gần 1/7 diện tích trồng trọt. Toàn bộgánh nặng của hoà ước Vécxai đè lên vai nhân dân Đức. Tuy thế, hoà ước Vécxaikhông thủ tiêu được tiềm lực kinh tế chiến tranh của Đức. Sau này, với sự trợ giúpcủa Mĩ, Anh, chỉ trong vòng một thời gian ngắn, nước Đức đã khôi phục và trởthành một lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất ở châu Âu trong thập niên 30.Các hoà ước khác.Cùng với hoà ước Vécxai kí với Đức, những hoà ước khác cũng lần lượt kíkết với các nước bại trận trong hai năm 1919 - 1920. Với hoà ước Saint - Germainkí với Áo ngày 10 - 9 - 1919 và Hoà ước Trianon kí với Hunggari ngày 4-6-1920,đế quốc Áo - Hung trước kia không còn nữa mà bị tách thành hai nước nhỏ: Áo chỉcòn 6,5 triệu dân với diện tích 84.000 km2, Hunggari cũng mất 1/3 lãnh thổ trướckia, chỉ còn lại 92.000km2 với 8 triệu dân. Mỗi nước chỉ được quyền có khoảng30.000 quân và phải bồi thường chiến phí. trên lãnh thổ của đế quốc áo - Hung cũđã thành lập hai quốc gia mới là Tiệp Khắc và Nam Tư. Một số nước được mởrộng thêm đất đai từ lãnh thổ của đế quốc áo - Hung: Rumani được thêm vùngBukovine và Transylvanie, Italia được thêm vùng Trentin - Istrie, Ba Lan cũngđược thành lập với vùng Galicia thuộc áo và các vùng đất khác thuộc Đức và Nga.Ở bán đảo Ban căng, số phận hai nước thua trận là Bungari và đế quốc ốttômancũng được quyết định. Với hoà ước Neuilly kí với Bungari ngày 27-11-1919, lãnhthổ Bungari bị thu hẹp lại so với trước kia do phải cắt một số đất đai ở biên giớiphía Tây cho Nam Tư, cắt vùng Thrace cho Hi Lạp (do vậy bị mất cảngDédéagatch và lối ra biển Egée và cắt tỉnh Dobroudja cho Rumani. Ngoài ra,Bungari phải bồi thường chiến phí là 2,25 tỉ phơ răng, phải nộp cho các nước lánggiềng trong phe chiến thắng (Nam Tư, Hi lạp, Rumani) 37.000 gia súc lớn, 33.000gia súc nhỏ, đồng thời phải hạn chế lực lượng vũ trang xuống còn không quá20.000 người. Hoà ước Sevres với Thổ Nhĩ Kì kí ngày 11 - 8 - 1920 đã chính thứcxoá bỏ sự tồn tại của đế quốc Ottoman. Syria, Libăng, Palextin và Irắc tách khỏithổ Nhĩ Kì và đặt dưới quyền “bảo hộ” của Anh và Pháp. Ai Cập chịu sự “bảo hộ”của Anh, bán đảo Aráp được coi là thuộc “phạm vi thế lực” của Anh. Phần đấtchâu Âu của Thổ Nhĩ Kì phải cắt cho Hi Lạp (trừ Istambul và vùng ngoại ô). Cáceo biển của Thổ Nhĩ Kì được đặt dưới quyền kiểm soát của một uỷ ban gồm cácđại biểu của Anh, Pháp, Italia, Nhật Bản.Toàn bộ những hoà ước nói trên hợp thành Hệ thống hoà ước Vécxai. Đây làvăn bản chính thức đầu tiên xác định việc phân chia thế giới của chủ nghĩa đếquốc. Trật tự mới này đem lại lợi ích cho các cường quốc thắng trận, nhất là Anh.Anh chẳng những mở rộng hệ thống thuộc địa đồng thời quyền bá chủ mặt biểnvẫn được giữ vững. Pháp và Nhật cũng giành được khá nhiều quyền lợi. Tuy nhiên,những điều khoản khắt khe của Hệ thống hoà ước Versailles đối với các nướcchiến bại, nhất là Đức, trên thực tế chẳng những đã không thể thực hiện được màcòn làm tăng thêm tâm lý phục thù của các nước này. Đó là mâu thuẫn nảy sinhngay từ khi hệ thống này mới được hình thành. Đồng thời, tham vọng lãnh đạo thếgiới của giới cầm quyền Mĩ cũng chưa được thực hiện. Chính vì thế các nước đếquốc đã phải tiếp tục giải quyết những bất đồng về quyền lợi tại một hội nghị tiếptheo ở Washington.1.3. Hội Quốc LiênMột trong những vấn đề cơ bản được các nước tham dự Hội nghị Vécxainhất trí là việc thành lập Hội Quốc liên, được thành lập theo tinh thần và nội dungcủa Điểm 14 trong "Chương trình 14 điểm" của Uyn-xơn. Công ước thành lập Hộiquốc liên là văn kiện đầu tiên được kí kết cùng với Hiến chương của Hội. Theo đó,mục đích của Hội Quốc liên là “khuyến khích sự hợp tác quốc tế, thực hiện nềnhoà bình và an ninh thế giới”, và để thực hiện mục đích đó người ta đề ra một sốnguyên tắc như: không dùng chiến tranh trong quan hệ giữa các nước, quan hệquốc tế phải rành mạch và dựa trên đạo lí, phải thi hành những cam kết quốc tế...Ngày 10 - 1 - 1920, Hội Quốc liên chính thức thành lập với 44 nước kí vàocông ước sáng lập, Hội quốc liên có 3 tổ chức chính: Đại hội đồng (gồm tất cả cácnước thành viên, họp mỗi năm một lần vào tháng 9), Hội đồng thường trực (gồm 5uỷ viên các cường quốc Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, Italia - sau đó còn lại 4 vì Mĩ khôngtham gia, và một số uỷ viên có kì hạn, họp mỗi năm ba lần), Ban thư ký thườngtrực (do Tổng thư ký đứng đầu) thường trực như một nội các làm việc hành chínhthường xuyên, đóng trụ sở ở Geneve. Các cơ quan chuyên môn của Hội Quốc liêngồm có Toà án quốc tế (có trụ sở thường trực ở La Hay) và các tổ chức khác như:Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Tổ chức sức khoẻ (HO), uỷ ban người tị nạn(HCR)...Nội dung hoạt động do Hội Quốc liên đề ra là giám sát việc giải trừ quân bị,tôn trọng và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị, giải quyết các tranhchấp quốc tế, thực hiện “chế độ uỷ trị” đối với một số lãnh thổ “chưa đủ điều kiệntự quản”... Nước nào vi phạm công ước, gây chiến tranh sẽ bị xem là gây chiến vớitoàn thể hội viên và sẽ bị trừng phạt dưới hai hình thức: bằng biện pháp kinh tế vàtài chính (do tất cả các nước hội viên bắt buộc phải thi hành) và bằng những biệnpháp quân sự.Sự ra đời của Hội Quốc Liên, một tổ chức chính trị mang tính quốc tế đầutiên, đã đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ quốc tế thế kỷ XX. Về danhnghĩa, Hội Quốc Liên trở thành một tổ chức giám sát trật tự quốc tế mới, nhằmngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ hoà bình thế giới. Tuy nhiên, trên thực tế, nhữnghoạt động của Hội quốc Liên là nhằm duy trì trật tự thế giới mới do các cườngquốc chiến thắng áp đặt tại Hội nghị Vécxai. Với "chế độ uỷ trị", Anh, Pháp đãchia nhau hầu hết các thuộc địa của Đức và lãnh thổ của đế quốc Thổ Nhĩ Kì. Cácbiện pháp về giải trừ quân bị và sự trừng phạt chỉ mang ý nghĩa hình thức vì HộiQuốc liên không có sức mạnh thực tế để thực thi các quyết định của mình. Để HộiQuốc Liên có thể trở thành một công cụ có hiệu quả, tổ chức này phải có ý chíchính trị thống nhất và có khả năng quân sự cần thiết. Những sự kiện diễn ra saunày sẽ cho thấy sự bất lực của Hội Quốc Liên trong việc giải quyết các vấn đề quốctế. Hội Quốc Liên được thành lập theo sáng kiến của Tổng thống Mĩ Uyn-xơnnhưng Mĩ từ chối không tham gia do những tham vọng của Mĩ đã không được thựchiện trong Hội nghị Vécxai. Điều đó cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến uy tín vàsức mạnh của tổ chức này.1.4. Hiệp ước ký ở OasinhtơnHội nghị Vécxai kết thúc nhưng những mâu thuẫn mới lại nảy sinh giữa cáccường quốc thắng trận đặc biệt là mâu thuẫn trong quan hệ Anh - Mĩ và Mĩ - Nhật.Các nguyên nhân dẫn đến việc ký hòa ước này là:- Hòa ước Vécxai không giải quyết được mâu thuẫn giữa các nước đế quốc,ngay cả trong nội bộ các nước đế quốc. Trên thực tế, Anh là nước có nhiều quyềnlợi hơn cả, được giữ vững hệ thống thuộc địa và không cho một đế quốc nào khácmạnh hơn và qua mặt mình. Pháp và Nhật cũng giành được nhiều quyền lợi qua Hệthống hòa ước Vécxai. Còn Mỹ chưa giành được quyền lợi nào đáng kể. Cụ thể,Mỹ rất bất bình trước việc Anh, Pháp làm cho Đức quá suy yếu. Về bồi thườngchiến tranh, trong khi Anh, Pháp đòi Đức bồi thường 480 - 600 tỉ mac, Đức chấpnhận 100 tỉ mac, thì Mỹ chỉ chấp nhận có 200 tỉ mac mà thôi. Chính giới Mỹ cũngbất bình khi Hiệp ước Vécxai quyết định trao Sơn Đông cho Nhật, là đối thủ cạnhtranh nguy hiểm của Mỹ ở Viễn Đông.- Sự thất bại của Uyn-xơn. Đúng vậy, Uyn-xơn chưa có những hành độngtích cực bảo vệ quyền lợi của Mỹ trong Hệ thống hòa ước Vécxai. Trong các hòaước Vécxai, ông đã không thể đưa vào nguyên tắc "tự do về biển", đồng thời khiHội Quốc Liên được thành lập theo sáng kiến của ông thì cũng bị đa số Đảng CộngHòa chiếm ưu thế trong Thượng viện đánh giá một cách tiêu cực, vì họ cho rằngAnh và Pháp đang là kẻ chi phối chính trong tổ chức này, chứ không phải Mỹ.Do tất cả những điều đó mà khi Uyn-xơn ký vào Hòa ước trên, Thượng viện Mỹđã lập tức không phê chuẩn nó và rút ra khỏi Hội Quốc Liên. Hậu quả là, trongcuộc bầu cử năm 1920, đảng Dân chủ của ông bị thất cử với số phiếu chênhlệch: 60,36% (Cộng hòa) và 34,19% (Dân chủ). Tân tổng thống của đảng Cộng hòamới lên nhậm chức là Harding đã vin vào cái gọi là "chủ nghĩa biệt lập", để khôngbị lệ thuộc vào hòa ước trên và theo đuổi một ý đồ khác nhằm thiết lập địa vị chongười Mỹ.- Mâu thuẫn Anh - Mỹ về "Two Power Standard" ("nguyên tắc sức mạnhgấp đôi"), liên minh Anh - Nhật và sức ép của Mỹ với liên minh này. Như đã biết,Anh có ưu thế từ lâu trên Viễn Đông, nhất là Trung Quốc, nơi người Mỹ thèm khátmuốn xâm nhập vào, nhưng lúc nào cũng bị Anh chặn lại. Hơn thế, với Hòa ước1919, Anh bảo toàn được địa vị của mình ở Viễn Đông, điều này khiến Mỹ rất bấtbình. Để giải quyết, Mỹ sử dụng sức mạnh tài chính (buộc Anh trả khoảng nợ 850tỉ bảng cho mình), vấn đề Ireland và đe dọa mối quan hệ Nhật - Anh. Đồng thời,Mỹ nhận thấy lúc đó lực lượng Hải quân của Anh rất mạnh, có mặt hầu như khắpnơi trên thế giới. Năm 1914, chính phủ Anh đề ra nguyên tắc "sức mạnh gấp đôi"quy định lực lượng quân Anh bằng 2 lần lực lượng hai đế quốc cộng lại, và điều đókhiến người Mỹ bất bình và muốn thay đổi, xóa bỏ cái gọi là "nguyên tắc sức mạnhgấp đôi" này.- Mâu thuẫn Mỹ - Nhật về vấn đề Viễn Đông. Việc xây dựng kênh đàoPanama để thông thương đã làm cho mâu thuẫn Nhật - Mỹ, vốn có từ lâu trước Thếchiến 1, bùng lên. Ngoài ra, Nhật cũng có lợi thế ở Viễn Đông nhiều hơn Mỹ, đó làNhật có xây dựng các căn cứ Hải quân ở Đài Loan, quần đảo Lưu Cầu, đảoSakhalin, các quần đảo Kuril, Mariana, Marshall.... rất thuận lợi cho Nhật có thể tựdo di chuyển, phòng ngừa các cuộc tấn công xảy ra bên ngoài Nhật Bản. Trong khiđó, Mỹ mới có đặt chân vào vùng Thái Bình Dương từ hồi năm 1899 và đang xâydựng lực lượng, thế nhưng với sự tăng trưởng không ngừng của Nhật về Hải quânđã làm Mỹ xem xét lại và quyết định sẽ tăng cường hải quân vào khu vực này,trong khi đó Mỹ cũng lo ngại vùng Thái Bình Dương rộng lớn sẽ gây khó khăn chonó khi có chiến tranh, do đó Mỹ cũng đem quân, xây dựng các căn cứ ở Guam,Philippines. Căng thẳng Nhật - Mỹ còn liên quan đến vấn đề Cộng hòa Viễn Đông.Trong khi Nhật muốn bóp chết chính quyền Viễn Đông thì Mỹ cũng lo ngại vềhành động của Nhật ở đây, và cho các công ty của mình vào nước này khaikhoáng, nhưng Nhật đã phản đối quyết liệt.Ngày 12 - 11 - 1921, Hội nghị Washington được khai mạc với sự tham giacủa 9 nước: Anh, Pháp, Mĩ, Italia, Nhật, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Trung Quốc.Nước Nga Xô viết - một nước lớn ở khu vực đã không được mời tham dự hội nghị.Quyền lãnh đạo hội nghị nằm trong tay bốn nước: Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, nhưngquyền quyết định thuộc về Mĩ. Những nghị quyết quan trọng nhất của Hộinghị Washington được thể hiện trong ba hiệp ước: Hiệp ước 4 nước (Anh, Pháp,Mĩ, Nhật) , Hiệp ước 9 nước (Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, Italia, Bỉ, Hà Lan, Bồ ĐàoNha, Trung Quốc) và Hiệp ước 5 nước (Anh, Pháp, Mĩ, nhật, Italia).Hiệp ước 4 nướcĐược gọi là Hiệp ước “không xâm lược ở Thái Bình Dương” kí ngày 13-121921 và có giá trị trong 10 năm. Các bên thoả thuận “tôn trọng quyền của nhau vềcác đảo ở vùng Thái Bình Dương” thực ra là cùng nhau bảo vệ các thuộc địa ở khuvực rộng lớn này. Đồng thời cũng nhân dịp này Mĩ gây áp lực với Anh để liênminh Anh - Nhật (được kí kết từ năm 1902) không còn hiệu lực nữa (điều 4). VớiHiệp ước này, Mĩ không chỉ thủ tiêu được liên minh Anh - Nhật mà còn trở thànhnước đóng vai trò chủ đạo trong bốn cường quốc ở khu vực Thái Bình Dương.Hiệp ước 9 nướcKí ngày 6 - 2 - 1922, gồm 9 điều, công nhận nguyên tắc “hoàn chỉnh về lãnhthổ và tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc” đồng thời nêu nguyên tắc “mở cửa”và “khả năng đồng đều” cho các nước trong các hoạt động thương mại và côngnghiệp trên toàn lãnh thổ Trung Quốc. Ngoài ra, một công ước đặc biệt được kýkết thống nhất thuế hải quan của Trung Quốc với tỉ lệ bằng 5% giá trị hàng hóa, vàTrung Quốc không được tăng thuế lên mức 12,5%. Tóm lại với hiệp ước này,Trung Quốc đã trở thành một thị trường chung của các cường quốc phương Tây vàNhật Bản. Đặc biệt là Mĩ đã hợp pháp hoá sự bành trướng của mình vào TrungQuốc.Hiệp ước 5 nướcKí kết cùng ngày 6-2-1922, được gọi là “Hiệp ước hạn chế vũ trang và hảiquân” nhằm qui định trọng tải tàu chiến của các nước ở khu vực Thái Bình Dươngtheo tỉ lệ: 5 - 5 - 3 - 1,75 - 1,75 (cụ thể: Mĩ và Anh bằng nhau: 525.000 tấn, Nhật:315.000 tấn, Pháp và Italia bằng nhau: 175.000 tấn). Đồng thời các nước này cũngqui định tỉ lệ về hai loại tàu chở máy bay và tầu tuần dương hạm. Với hiệp ướcnày, Mỹ giành được quyền bình đẳng hải quân với Anh với nguyên tắc "sức mạnhgấp đôi" bị phá vỡ, Nhật cũng giành được thắng lợi quan trong khi 5 nước tuyên bốkhông xây dựng các căn cứ quân sự ở Thái Bình Dương, giúp nó nắm ưu thế trênvùng biển rộng lớn này.Kết hợp với hệ thống Hoà ước Versailles, các hiệp ước của Hộinghị Washington đã tạo nên Hệ thống Versailles - Washington. Đó là trật tự thếgiới mới mà chủ nghĩa đế quốc xác lập, trong đó ba cường quốc Anh, Pháp, Mĩgiành được nhiều ưu thế nhất và “7/10 dân cư thế giới trong tình trạng bị nô dịch”theo cách nói của Lê-nin. Những điều khoản ký kết ở Véc xai và Oasinhtơn còn làsự chà đạp trắng trợn đến quyền dân tộc của các nước đế quốc bại trận cũng nhưcác nước thuộc địa. Nội bộ phe đế quốc cũng bị phân chia thành những nước thoảmãn và những nước bất mãn với hệ thống này, tạo nên mầm mống của những cuộcxung đột quốc tế trong tương lai. Như thế, sau cuộc chiến tranh thế giới kéo dàibốn năm (1914 - 1918) với những tổn thất nặng nề cho toàn nhân loại, hoà bình đãđược lập lại trong một thế giới chứa đựng nhiều mâu thuẫn và bất ổn.2. Trật tự Vécxai - Oasinhtơn từng bước bị sói mòn và sụp đổ2.1. Trật tự Vécxai - Oasinhtơn từng bước bị sói mòn2.1.1.Trật tự Vécxai – Oasinhtơn bị xói mòn ngay từ sau hệ thống hòaước Véc xaiHòa ước Vécxai với Đức là hòa ước có sự sắp đặt rất khắt khe của các cườngquốc đối với 1 một nước Đức bại trận. Nó có thể được so sánh với Hiệp định Tilsitmà Hoàng đế Pháp Napoleon I ký với Nga để áp đặt nước Phổ năm 1807, hoặc làHiệp ước Brest - Litopsk mà Đế chế Đức áp đặt vào nước Nga Xô viết vào năm1918. Lenin đã bình luận hết sức mỉa mai về Hội nghị này: "Chúng muốn quyếtđịnh xem cho ai nhiều than hơn, thế là chúng cãi cọ trong suốt 5 tháng nay, chúngkhông còn kiềm chế được mình và bầy thú dữ đó cắn cấu nhau loạn xạ đến nỗi chỉcòn lại cái đuôi". Việc hòa ước Versailles được công bố vào ngày 7/5/1919 đã gâyra một sự phản ứng mạnh mẽ không chỉ trong chính phủ, quân đội, mà còn lan ratoàn thể người dân Đức. Chính phủ lâm thời chống đối mạnh mẽ việc chấp nhận nóvà cho rằng nó là hòa ước "vô lý"; còn nhân dân Đức thì ủng hộ, hậu thuẫn chínhphủ nhiệt tình trong cuộc đấu tranh này. Chính phủ hỏi ý kiến quân đội: Nếu từchối ký vào hòa ước, liệu Quân đội có thể chống cự cuộc tấn công của Đồng minhhay không? Ngày 17/6, Thống chế Hindenburg cho rằng, nếu từ chối ký hòa ước,Đức sẽ có thể gây chiến tranh chiếm vùng Posen, nhưng sẽ rất khó khăn nếu Đồngminh tấn công kịch liệt và chúng ta sẽ thất bại. Chi bằng chúng ta thà thua trongdanh dự còn hơn chấp nhận một nền hòa bình nhục nhã. Lời nói này củaHindenburg khiến người dân cảm thấy như là không thực sự trung thực cholắm. Nhân dân Đức không biết Hindenburg đã nghĩ rằng nếu cố chống cự Đồngminh thì không những vô vọng, mà còn có thể khiến cho cấp chỉ huy quân đội quýgiá bị tiêu diệt và từ đó nước Đức cũng bị hủy diệt theo. Vài ngày sau, khi bị Đồngminh bắt phải ra ngay quyết định cuối cùng, Chính phủ đã họp lại nội các và quânđội và 4 ngày sau, quốc hội Đức mới chính thức ký vào văn kiện Hòa ướcVersailles.Việc ký kết hòa ước này gây sự phản ứng rất mạnh mẽ ở nhiều nơi. Ở LiênXô, khi nghe tin hòa ước được ký kết, Lê-nin đã nhận xét: "Đấy là một thứ hòaước kỳ quái, một thứ hòa ước ăn cướp, nó đẩy hàng chục triệu con người, trong đócó những con người văn minh nhất, rơi vào tình cảnh bị nô dịch. Đấy không phảilà một hòa ước, đấy là những điều kiện mà bọn ăn cướp tay cầm dao buộc một nạnnhân không có gì tự vệ phải chấp nhận". Đồng thời ở Pháp, Thống chế Foch, viêntướng Pháp có nhiều công lao lớn trong Thế chiến I, đã không ngừng phản đốiClemenceau rất kịch liệt và không bằng lòng với những nội dung Hòa ước đã kývới Đức, ông ta cũng dự báo về những thất bại của Hòa ước đó. Ông ta từng chứngkiến quân Đức hủy hạm đội của mình để tránh rơi vào tay giặc, quân và dân Đứcđốt cháy lá cờ Pháp ở nước Đức mà quân Đức cướp trong cuộc chiến 1870 - 1871,nhằm ngăn cản việc giao các lá cờ này cho Pháp... Ông viết thư cho vợ: "Bọn họnhạo báng chúng ta. Toàn thể châu Âu là một đám nhốn nháo. Ấy là công trìnhcủa Clê-măng-xô". Do đó, Foch từ chối làm lễ ký kết Hiệp ước này vào ngày 28tháng 6 năm 1919 tại Versailles. Foch có lời tuyên bố, mà sau này càng trở nênđúng: "Đây không phải là một Hòa ước. Đây là một Thỏa ước ngừng bắn trongvòng 20 năm". Bất chấp sự nỗ lực lớn nhất của Clemenceau, Hòa ước này thất bạivì không thể thay đổi sự cân bằng chiến lược Đức - Pháp: Đức thì đông dân, cótiềm lực quân sự, chính trị mạnh nhưng trong khi đó quân đội Pháp lại quá yếu,ảnh hưởng rất nhỏ bé trong phe Hiệp ước nên rất khó đương đầu với Đức. Chính vìvậy, Thượng viện Hoa Kỳ từ chối phê chuẩn bản Hòa ước này vào tháng 1năm 1920, và liên minh giữa Anh Quốc và Pháp bắt đầu suy sụp. Foch chán ghétmột liên minh quân sự Pháp - Anh - Mỹ, cái mà Clemenceau đặt niềm tin to lớn.Thành thử không những chiến thắng của Pháp vào năm 1918 hoàn toàn là mộtchiến thắng mà Pháp đã thất bại trong việc thiết lập một nền hòa bình lâu dài.Người Nhật cũng thể hiện sự không bằng lòng một cách kín đáo: trong hội nghị,đại diện của Nhật nở nụ cười bí hiểm, hướng ánh mắt xa xăm về Châu Á – TháiBình Dương.“Cơm không lành, canh không ngọt”, nguyện vọng vươn lên vị trí bá chủcủa nước Mỹ chưa được thỏa mãn. Họ nhanh chóng triệu tập hội nghị ở Oasinhtơnngay sau đó ít lâu.Hội nghị Washington hoàn toàn có lợi cho Mĩ, trong khi nước Anh phảichấp nhận nhượng bộ: từ bỏ nguyên tắc “sức mạnh quân sự gấp đôi” đã có từ năm1914, theo đó hải quân Anh phải có hạm đội bằng hai hạm đội mạnh nhất thế giớicộng lại, đồng thời phải huỷ bỏ liên minh Anh - Nhật. Từ đây hải quân Mĩ nganghàng với Anh và vượt qua Nhật. Mĩ còn thực hiện được việc xâm nhập vào thịtrường viễn Đông và Trung Quốc thông qua chính sách “mở cửa”. Với hệ thốngHiệp ước Washington, Mĩ đã giải quyết quyền lợi của mình bằng cách thiết lập mộtkhuôn khổ trật tự mới ở Châu Á - Thái Bình Dương do Mĩ chi phối. Người Nhậtcũng có điều kiện phát triển lực lượng hải quân, phục vụ cho những kế hoạch tiếptheo của mình.Chúng ta có thể nhận ra mong muốn cân bằng quyền lực giữa các nước lớnđặc biệt là của Anh và Pháp nhằm tạo ra một trật tự thế giới mới sau Chiến tranhthế giới thứ nhất có lợi cho họ. Tuy nhiên, những toan tính này vấp phải mưu đồriêng của Mỹ và Nhật, hai quốc gia đã mạnh lên rất nhiều sau chiến tranh, đặc biệt,Mỹ là chủ nợ của toàn châu Âu. Những giành giật, giao kèo mới ở Véc xai và sauđó là Oasinhtơn khiến các nước lớn không tìm ra được tiếng nói chung, dần rà, họxa cách trong các việc xử lý các vấn đề nóng bỏng sau này. Đó là điều kiện vôcùng thuận lợi để nước Đức, và các nước phát xít có thời cơ hành động.2.1.2. Vấn đề thực hiện Hoà ước Vécxai kí với Đức.Tiếng nói chung trong việc giải quyết vấn đề Đức đã không xuất hiện.Việc thực hiện các điều khoản của Hoà ước Vécxai kí với Đức chiếm một vịtrí đặc biệt quan trọng trong quan hệ quốc tế những năm 20. Về vấn đề bồi thườngchiến tranh, Hội nghị Luân Đôn ngày 30 - 4 - 1921 đã qui định số tiền bồi thườngcủa Đức là 132 tỉ mác vàng và Đức bắt đầu phải trả từ mùa hè năm 1921. Tuynhiên, tình trạng khủng hoảng kinh tế - tài chính trầm trọng diễn ra ở Đức đã khiếncho nước này không có khả năng thực tế để trả món nợ đó. Sau việc liên quân Pháp- Bỉ chiếm đóng vùng Ruhr (11 - 1 - 1923), nơi sản xuất 90% sản lượng than và70% sản lượng gang của nước Đức, không mang lại hiệu quả trong vấn đề bồithường của Đức, một Hội nghị quốc tế đã được triệu tập ở Luân đôn để xem xét lạivấn đề này. Hội nghị Luân đôn khai mạc ngày 16 - 7 - 1924 với sự tham gia củacác đại diện Anh (MacDonald), Pháp (Herriot), Italia (Stefani), Nhật (Hayashi), Bỉ(Teinic), Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Rumani, và Mĩ (Kellogg) (về danh nghĩa Mĩ chỉtham gia với một số quyền hạn chế nhưng trên thực tế Mĩ có ảnh hưởng lớn trongHội nghị). Hội nghị Luân Đôn đã thông qua kế hoạch Dawes có giá trị trong vòng5 năm với nội dung chủ yếu là Mĩ và Anh sẽ giúp đỡ Đức trong việc phục hồi vàphát triển kinh tế - tài chính để nước này có khả năng trả được các khoản bồithường chiến tranh theo lịch trình được Uỷ ban 5 nước Anh, Pháp Mĩ, Italia quiđịnh như sau:- Năm thứ nhất trả 1 tỉ mác vàng;- Năm thứ hai: 1,22 tỉ mác vàng;- Năm thứ 3: 1,2 tỉ mác vàng;- Năm thứ tư: 1,75 tỉ mác vàng;- Từ năm thứ năm: mỗi năm 2,5 tỉ mác vàng.Với kế hoạch Dawes, Pháp đã phải có những nhượng bộ quan trọng: Phápphải rút khỏi vùng Ruhr (năm 1925) việc giải quyết vấn đề bồi thường chiến tranhđã tuột khỏi tay Pháp chuyển sang tay người Mĩ. Mĩ và Anh có điều kiện mở rộngảnh hưởng về kinh tế - tài chính vào nước Đức. Kế hoạch Dawes đã góp phần quantrọng vào việc phục hồi và phát triển kinh tế Đức. Những trận “mưa đô la” từ Mĩvà Anh qua kế hoạch này đã tạo điều kiện trang bị những kĩ thuật hiện đại và nângcao năng lực sản xuất của nền kinh tế Đức. Trong năm đầu thực hiện kế hoạchDawes, khi số tiền Đức cho vay được ấn định là 800 triệu mac, thì trên thực tế Đứcnhận được đến 921 triệu mac (461 triệu của Mỹ, 227 triệu của Anh). Từ đó đếnnăm 1929, Đức đã nhận viện trợ của Mĩ, Anh để vay, tín dụng và đầu tư vào côngnghiệp khoảng 20 - 25 tỉ mac vàng. Số tiền viện trợ đó không những đủ để trả nợcho các đế quốc thắng trận (Đức trả lại cho họ tới 11 tỉ mac) mà còn đủ để pháttriển kinh tế của mình. Năm 1929, tổng sản lượng công nghiệp Đức đạt 113% mứctrước chiến tranh, vượt qua Anh, Pháp. Cũng trong năm 1929, kế hoạch Dawes lạiđược điều chỉnh theo hướng giảm bớt gánh nặng bồi thường chiến tranh cho Đức.Sau một thời gian dài thảo luận, tháng 8 - 1929, Hội nghị quốc tế của 12 nước tưbản họp ở La Hay đã chính thức thông qua kế hoạch Young. Theo đó số tiền bồithường của Đức giảm xuống còn 113,9 tỉ mác vàng và được trả trong thời hạn kéodài tới 60 năm, đồng thời quân đội chiếm đóng của Pháp, Bỉ sẽ phải rút khỏi vùngRhenanie trước ngày 30 - 6 - 1930. Đến đây, uỷ ban bồi thường đã chấm dứt hoạtđộng, thay vào đó Ngân hàng thanh toán quốc tế sẽ chịu trách nhiệm theo dõi việctrả tiền bồi thường chiến tranh của Đức. Như vậy, nhờ sự hà hơi tiếp sức của Anhvà Mĩ với ý đồ sử dụng Đức như một con đập ngăn làn sóng cách mạng có khảnăng tràn sang phía Tây từ Liên Xô, chỉ trong một thời gian ngắn nước Đức chẳngnhững đã phục hồi nhanh chóng mà còn tăng cường tiềm lực kinh tế - quân sự củamình.2.1.3. Các hội nghị quốc tế về hoà bình, an ninh tập thể và giải trừ quânbịCác nước lớn ngày càng xa cách trong việc thực hiện an ninh tập thể và giảitrừ quân bị.Bước vào thập niên 20, nhìn chung các nước tư bản đều bước vào thời kì ổnđịnh và đạt được sự phát triển nhanh chóng về kinh tế. Sự ổn định về kinh tế vàchính trị của chủ nghĩa tư bản đã tác động không nhỏ đến chiều hướng phát triểncủa quan hệ quốc tế. Sau Hội nghị Versailles - Washington, hàng loạt các hội nghịquốc tế về các vấn đề hoà bình, an ninh tập thể, giải trừ quân bị... đã diễn ra trongkhuôn khổ hệ thống Versailles - Washington.Hội nghị quốc tế Genova (Italia) diễn ra từ 4 -10 đến 19 - 5 - 1922 với sựtham gia của đại biểu 29 nước trên thế giới (Mĩ không chính thức tham gia mà chỉcử quan sát viên tham dự). Nước Nga Xô viết lần đầu tiên chính thức được mờitham dự. Hội nghị bàn về những vấn đề kinh tế - tài chính của tất cả các nước ChâuÂu sau chiến tranh, trong đó “vấn đề Nga”. Hội nghị Genova hầu như không đạtđược kết quả đáng kể nào. Trong khi đó, bên lề hội nghị Genova, hai nước Đức vàNga đã kí kết Hiệp ước Rapallo (16 - 4 - 1922) nhằm khôi phục lại các quan hệngoại giao, cam kết từ bỏ các khoản nợ và bồi thường chiến tranh (điều 116 củahòa ước Versailles), quốc hữu hóa các tài sản sở hữu nhà nước, đồng thời áp dụngchính sách tối huệ quốc cho các quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai nước. Hiệpước này như một quả bom nổ tung bên cạnh hội nghị Genova đang diễn ra, và làmột thắng lợi lớn của nền ngoại giao Nga Xô viết lúc đó. Chail - quan sát viên củaMỹ tại hội nghị Genova đã đánh giá hiệp ước Rapallo "đã làm rung chuyển toànthế giới và giáng một đòn chí mạng vào Hội nghị Genova". Và quả thật, đúng nhưDuroselle khi đó đã viết: "Hiệp ước Rapallo làm các đồng minh hốt hoảng", vàmặc dù bị đồng minh phản đối kịch liệt, nhưng Đức vẫn quyết tâm thực hiện vì chỉcó nó mới giúp Đức tồn tại, đứng vững và tạo đà phát triển mạnh về sau này.Cuối năm 1922, Hội nghị quốc tế ở Lausanne (Thuỵ sĩ) để bàn về việc kí kếtmột hiệp ước hoà bình mới với Thổ Nhĩ Kì và những vấn đề khác liên quan đếncác eo biển ở vùng biển Hắc Hải. Một hòa ước được ký kết, đã xác định lãnh thổcủa nước này bao gồm vùng Tiểu Á và vùng Đông Thessaly ở phần châu Âu,nhưng Liên Xô đã phủ quyết hòa ước này. Hòa ước hoàn toàn mất hiệu lực.Để xây dựng một nền an ninh tập thể ở châu Âu trong khuôn khổ hệ thốngVersailles - Washington, một hội nghị quốc tế giữa các nước tư bản châu Âu đãđược triệu tập ở Locarno (Thụy Sĩ) từ ngày 5 đến 16 - 10 - 1925. Hội nghị đã đếnkí kết hệ thống hiệp ước Locarno (143 điều), bao gồm: Hiệp ước đảm bảo chung(còn gọi là hiệp ước đảm bảo Rhenanie) giữa Anh, Pháp, Đức, Italia và Bỉ, cáchiệp ước Pháp - Đức, Đức - Bỉ, Đức - Tiệp, Đức - Ba Lan về trọng tài và các hiệpước đảm bảo Pháp - Ba Lan và Pháp - Tiệp. Các hiệp ước nói trên là sự cam kếtđảm bảo đường biên giới giữa các nước có liên quan; phi quân sự hóa vùngRhenanie theo những điều khoản của Hệ thống Versailles. Trong trường hợp Đứcxâm chiếm vùng phi quân sự này, các nước ký hiệp ước có toàn quyền, kể cả dùngvũ lực để chống lại (điều 2). Đồng thời, cũng tại hội nghị này các nước đã đi đếnthoả thuận đồng ý để nước Đức tham gia Hội Quốc Liên (tuy nhiên phải đến tháng9 - 1926 Đức mới trở thành viên chính thức của Hội Quốc Liên).Với việc kí kết hệ thống hiệp ước Locarno và việc nước Đức tham gia HộiQuốc Liên, mâu thuẫn giữa các cường quốc phương Tây dường như dịu đi và cácchính khách tư sản, các nhà báo đã tán tụng nó và họ đã "mơ" về nền hòa bình màchâu Âu chờ đợi từ lâu (!). Hiệp ước trên đã giáng cho các liên minh của Phápnhững thất bại nặng nề và Pháp cũng từ đó mất hết hy vọng làm suy yếu Đức sauhiệp ước Versailles. Với việc ký hiệp ước trên, Đức đã thoát dần ra khỏi vị trí lànước bại trận, vươn lên bình đẳng về chính trị - kinh tế với các nước và "hợp pháphóa" địa vị trên trường quốc tế. Còn Anh và Mỹ thì tỏ ra hài lòng về Hệ thống hiệpước này, bởi một mặt, hệ thống này khống chế được Pháp, buộc Đức ràng buộcvào các cam kết nhất định đối với các cường quốc phương Tây, mặc khác nó tạođiều kiện để sử dụng Đức trong các ý đồ chống Liên Xô.Trong bối cảnh đó, về phía mình, Liên Xô không thể ngồi yên nhìn toàn thếgiới bị chi phối bởi các cường quốc, nhất là Đức, một nước vừa "nổi lên" sau hòaước Locarno. Tháng 10 - 1925, Liên Xô và Đức bắt đầu ký các hiệp ước hợp tác vềkinh tế (đường sắt, hàng hải...). Song, mục tiêu lớn nhất của Liên Xô là phải đạtmột hiệp ước trung lập và không tấn công lẫn nhau với Đức. Tháng 3 - 1926, Đứcđề nghị gia nhập vào Hội Quốc Liên và do nhiều trục trặc khác nhau trong đàmphán, Đức đã dần xích về Liên Xô. Ngày 24 - 4 - 1926, hai nước đã ký với nhauhiệp ước về trung lập và không tấn công nhau Xô - Đức tại Berlin (Đức), khẳngđịnh quan hệ hai nước sẽ tuân thủ theo hiệp ước Rapallo, cam kết theo nguyên tắctrung lập trong trường hợp bên kia bị một nhóm nước hay nước thứ ba tấn công,nếu các bên một nhóm nước hay nước thứ ba tẩy chay, bao vây, thì bên kia sẽkhông tham gia các hoạt động chống lại bên đã ký hiệp ước. Phía Đức còn thôngbáo là sẽ không bị ràng buộc bởi các quyết định của Hội để chống Liên Xô. Hiệpước Xô - Đức là một thắng lợi lớn của nền ngoại giao Nga Xô viết khi đó. Sau đó,Liên Xô có ký kết các hiệp ước với một loạt các nước khác nhau để khẳng định,củng cố vị thế lúc đó.Như vậy, sự kiện các hiệp ước Xô - Đức, Locarno, Thổ Nhĩ Kì và Đức gianhập Hội Quốc Liên...đã làm sáng lên những tia hy vọng về một nền hòa bình cócơ may được xác lập ở châu Âu và trên toàn thế giới. Trong bối cảnh lòng tin vàoan ninh tập thể lên đến đỉnh cao mà tháng 4 - 1927, Ngoại trưởng Pháp AristideBriand đề nghị với Ngoại trưởng Mĩ Frank B. Kellogg về việc Pháp và Mỹ ký mộthiệp ước "hữu nghị vĩnh viễn, theo đó hai nước cam kết từ bỏ việc chiến tranh nhưlà một phương tiện chính trị quốc gia". Ngoại trưởng Mĩ đồng ý, nhưng sẽ mởrộng hiệp ước cho nhiều nước cùng tham gia. Sau nhiều cuộc đàm phán liêntục, ngày 27 - 8 - 1928 tại Pari đã diễn ra lễ ký kết Hiệp ước từ bỏ chiến tranh nóichung, còn được gọi là Hiệp ước Briand - Kellogg. Hiệp ước này đã được nhiềunước trên thế giới hưởng ứng và có tới 57 quốc gia kí kết tham gia, trong đó cóLiên Xô. Liên Xô là một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn Hiệp ước vàmong muốn Hiệp ước này sớm có hiệu lực. Một năm sau, nhằm thúc đẩy việc vậndụng vào thực tế hiệp ước này, theo sáng kiến của Thứ trưởng Ngoại giao Liên XôMaxim Litvinov (1876 - 1951), 8 nước (Liên Xô, Rumania, Latvia...) đã cùng nhauký "Nghị định thư Litvinov" (9 - 2 - 1929) kêu gọi hiện thực hóa hiệp ước Briand Kellogg vào thực tiễn mà không chờ đợi cho đến khi nó được các nước khác phêchuẩn.Mặc dù Hiệp ước Briand - Kellogg được đánh giá là “đánh dấu đỉnh cao củalàn sóng hoà bình trong thập niên 20,” nhưng thực tế cho thấy việc đặt niềm tin vàohiệp ước này là “một ảo tưởng nguy hiểm” bởi lẽ chỉ vài ngày sau khi kí kết hiệpước Briand - Kellogg, Anh và Pháp đã tiến hành kí kết ngay một thoả hiệp riêng rẽvấn đề vũ khí Hòa bình và an ninh tập thể trong khuôn khổ trật tự Versailles Washington, Hội Quốc Liên là rất mong manh, xa vời. Những diễn biến tiếp theotrong quan hệ quốc tế thập niên 30 sẽ tiếp tục chứng minh điều đó.Những toan tính riêng vì lợi ích dân tộc của các nước lớn đặc biệt là Mỹ,Anh, Pháp đã khiến họ xa cách, và không tìm được tiếng nói chung trong việc giảiquyết các vấn đề quốc tế, đặc biệt là vấn đề Đức. Nước Đức không hề bị suy yếuhoàn toàn sau chiến tranh, nung nấu ý định phục thù, và có điều kiện phục thù. Trậttự Véc xai- Oasinhtơn từng bước bị xói mòn nhanh chóng.2.2. Sự sụp đổ của trật tự Vécxai – Oasinhtơn2.2.1. Sự hình thành các lò lửa chiến tranhCuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) bùng nổ đã chấm dứtthời kì ổn định của chủ nghĩa tư bản cùng với ảo tưởng về một kỷ nguyên hoà bìnhcủa thế giới. Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mĩ ngày 24 - 10 - 1929, đã nhanhchóng tràn sang châu Âu, bao trùm toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa, để lại nhữnghậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội. Hàng trăm triệu người (côngnhân, nông dân và gia đình của họ) bị rơi vào vũng lầy đói khổ. Hàng ngàn cuộcbiểu tình lôi cuốn trên 17 triệu công nhân ở các nước tư bản tham gia trong nhữngnăm 1929 - 1933. ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, cuộc đấu tranh giành độc lậpdân tộc cũng bùng lên mạnh mẽ. Những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản trở nêncực kì gay gắt. Trong bối cảnh đó đã hình thành những xu hướng khác biệt nhautrong việc tìm kiếm con đường phát triển giữa các nước tư bản chủ nghĩa. Cácnước không có hoặc có ít thuộc địa gặp nhiều khó khăn về vốn, nguyên liệu và thịtrường đã đi theo con đường phát xít hoá chế độ chính trị, thiết lập nền chuyênchính khủng bố công khai nhằm cứu vãn tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng củamình. Các nước Italia, Đức, Nhật Bản là điển hình cho xu hướng này. Trong nhữngnăm 1929 - 1936, giới cầm quyền các nước nói trên đã từng bước phá vỡ nhữngđiều khoản chính yếu của hệ thống Vécxai – Oasinhtơn và tích cực chuẩn bị cuộcchiến tranh để phân chia lại thế giới. Trong khi đó các nước Mỹ, Anh, Pháp... đãtìm cách thoát ra khỏi khủng hoảng bằng những cải cách kinh tế - xã hội , duy trìnền dân chủ tư sản đại nghị, đồng thời chủ trương duy trì nguyên trạng hệthống Vécxai – Oasinhtơn. Quan hệ giữa các cường quốc tư bản trong thập niên30 chuyển biến ngày càng phức tạp. Sự hình thành hai khối đối lập - một bên làĐức, Italia, Nhật Bản với một bên là Mĩ, Anh, Pháp và cuộc chạy đua vũ tranggiữa hai khối đã phá vỡ hệ thống thoả hiệp tạm thời Versailles - Washington dẫntới sự hình thành các lò lửa chiến tranh, báo hiệu một cuộc chiến tranh thế giớimới.Lò lửa chiến tranh ở Viễn ĐôngNhật Bản là nước đầu tiên có tham vọng phá vỡ hệ thống Vécxai –Oasinhtơn bằng sức mạnh quân sự. Từ năm 1927 Thủ tướng Nhật Tanaka đã vạchmột kế hoạch chiến tranh toàn cầu đệ trình lên Thiên hoàng dưới hình thức bản“tấu thỉnh”', trong đó khẳng định phải dùng chiến tranh để xoá bỏ những “bất côngmà Nhật phải chấp nhận” trong các Hiệp ước Oasinhtơn (1921 - 1922) và đề ra kếhoạch cụ thể xâm lược Trung Quốc, từ đó mở rộng xâm lược toàn thế giới. Sau hailần thất bại trong việc xâm lược vùng Sơn Đông (Trung Quốc), ngày 18 - 9 - 1931Nhật Bản dựng “Sự kiện đường sắt Nam Mãn Châu” để lấy cớ đánh chiếm vùngĐông Bắc Trung Quốc, nơi tập trung 77% tổng số vốn của Nhật ở Trung Quốc.Đây là bước đầu tiên trong kế hoạch xâm lược đại qui mô của Nhật. Sau khi chiếmvùng này, quân Nhật dựng lên cái gọi là “Nhà nước Mãn Châu độc lập” với chínhphủ bù nhìn do Phổ Nghi đứng đầu, biến vùng Đông Bắc Trung Quốc thành thuộcđịa và bàn đạp cho những cuộc phiêu lưu quân sự mới.Việc Nhật Bản xâm lược Đông Bắc Trung Quốc đã động chạm đến quyềnlợi của các nước tư bản phương Tây, nhất là Mĩ. Tuy nhiên Mĩ cũng như Anh,Pháp đã nhân nhượng, dung túng cho hành động xâm lược của Nhật với tính toánrằng Nhật sẽ tiêu diệt phong trào cách mạng ở Trung Quốc và tiến hành chiến tranhxâm lược Liên Xô. Điều đó đã làm cho Nhật bỏ qua mọi phản đối của phái đoànđiều tra V. Lytton do Hội Quốc Liên cử đến Trung Quốc. Ngày 24 - 2 - 1933 HộiQuốc liên đã thông qua Báo cáo công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở MãnChâu, không công nhận “nước Mãn Châu” do Bộ tham mưu Nhật dựng lên nhưngmặt khác lại đề nghị duy trì “những quyền lợi đặc biệt của Nhật” ở Trung Quốc.Như vậy, Hội Quốc liên đã không công khai tuyên bố “hành động của Nhật là xâmlược và không quyết định một hình phạt nào đối với Nhật. Trước sức mạnh quânsự, Hội Quốc liên đã sử dụng sức mạnh tinh thần. Phương pháp đó không đem lạikết quả nào”. Nhật Bản tiếp tục mở rộng xâm lược Trung Quốc, chiếm đóng haitỉnh Nhiệt Hà và Hà Bắc. Để có thể tự do hành động, ngày 24 - 3 - 1933 Nhật Bảntuyên bố rút khỏi Hội Quốc liên. Hành động của Nhật đã phá tan nguyên trạng ởĐông á do Hiệp ước Oasinhtơn năm 1922 qui định, đánh dấu sự tan vỡ bước đầucủa Hệ thống Vécxai – Oasinhtơn. Không dừng lại ở đó, năm 1937 Nhật bắt đầumở rộng chiến tranh trên toàn lãnh thổ Trung Quốc.Sự hình thành lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất ở châu ÂuTrong lúc đó, lò lửa chiến tranh thế giới nguy hiểm nhất đã xuất hiện ở châuÂu với việc Hitle lên cầm quyền ở Đức tháng 1 - 1933. Có thể nói, lực lượng quânphiệt Đức đã nuôi chí phục thù ngay từ sau khi nước Đức bại trận và phải chấpnhận hoà ước Versailles. Bước vào thập niên 30, sự sụp đổ của chính phủ HermannMuller - chính phủ cuối cùng của nền Cộng hoà Weimar - và việc HeinrichBruning lên nắm chính quyền đầu năm 1930 đánh dấu một thời kì chuyển biến mớitrong chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Đức. Xu hướng thành lập mộtchính quyền ''mạnh'', một nền chuyên chính dân tộc chủ nghĩa cực đoan đã trởthành nhu cầu cấp thiết của giới quân phiệt ở Đức. Đảng Quốc xã được coi là lựclượng thực tế có thể đáp ứng được nhu cầu đó và Adolph Hitler được coi là “ngườihùng” có thể ngăn chặn được “tình trạng hỗn loạn và chủ nghĩa Bônsêvích”. Ngày30-1-1933 Tổng thống P. Hindenburg đã cử Hitler, lãnh tụ của Đảng Quốc xã thaySchleicher làm Thủ tướng, mở đầu một thời kỳ đen tối trong lịch sử nước Đức.Việc Hitler lên cầm quyền không chỉ là một sự kiện thuần tuý của nước Đức,mà còn “đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong lịch sử quan hệ quốc tế”. Bởilẽ, “đối mặt với Hitler, chủ nghĩa “xoa dịu” của Anh, sự trì trệ của Pháp và chủnghĩa trung lập của Mỹ là những hiện tượng tiêu biểu nhất của thời kỳ tiếp theo”Quốc tế cộng sản đã chỉ ra rằng "chủ nghĩa phát xít - đó là nền chuyên chính khủngbố công khai của những phần tử phản động nhất, sôvanh nhất và đế quốc chủ nghĩanhất của tư bản tài chính".Quả thật, ngay từ những năm 20, Hitler và Đảng Quốc xã đã công khai bàytỏ tham vọng bá chủ thế giới của mình. Trong tác phẩm "Cuộc chiến đấu của tôi" tác phẩm lý luận chủ chốt của Đảng Quốc xã mà Hitler là tác giả, đã đề cập đến"Kế hoạch lục địa", theo đó Đức dự định là sẽ chinh phục châu Âu, trong đó chủyếu là chiếm đoạt các vùng lãnh thổ ở phía đông châu Âu, trước hết là Nga và cácvùng phụ cận Nga. Tuy nhiên, Hitler cũng không loại trừ một cuộc chiến tranh vớiphương Tây để xâm chiếm lãnh thổ phía tây mà trong đó nước Pháp được coi là“kẻ thù truyền thống”. Hitler còn đề ra kế hoạch Âu - Á (Eurasia) và Âu - Phi(Eurafrica) nhằm xâm chiếm lãnh thổ của các nước châu Phi, châu Á và châu Mĩ.Việc làm đầu tiên của Hitler sau khi lên nắm quyền là tái vũ trang nước Đức vàthoát khỏi những ràng buộc quốc tế để chuẩn bị cho những hành động xâm lược.Tháng 10 - 1933 Chính phủ Đức quốc xã đã rời bỏ Hội nghị giải trừ quân bị ởGenova và sau đó tuyên bố rút khỏi Hội Quốc liên. Ngày 16 - 3 - 1935, Hitler côngkhai vi phạm Hoà ước Versailles, công bố đạo luật cưỡng bức tòng quân, thành lập36 sư đoàn (trong lúc đó Pháp chỉ có 30 sư đoàn). Ba tháng sau, ngày 18 - 6 - 1935Đức kí với Anh Hiệp định về hải quân, theo đó Đức được phép xây dựng hạm độitàu nổi bằng 35% và Hạm đội tàu ngầm bằng 45% sức mạnh hải quân của Anh.Hiệp định này trực tiếp vi phạm Hiệp ước Vécxai và tăng cường sức mạnh quân sựcủa nước Đức. Đồng thời, Hitler tìm cách bí mật thủ tiêu các chính khách phươngTây cản trở kế hoạch xâm lược của mình, như Thủ tướng Rumani I. Duca, Ngoạitrưởng Pháp L. Barthou, nhà vua Nam Tư Alexandre I và thủ tướng Áo E.Dollfuss. Không dừng lại ở đó, ngày 7 - 3 - 1936 Hitler ra lệnh tái chiếm vùngRheinanie, công khai xé bỏ Hoà ước Versailles, Hiệp ước Locarno và tiến sát biêngiới nước Pháp. Lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất đã xuất hiện ở châu Âu.Lò lửa chiến tranh thứ hai ở châu ÂuMặc dù là nước thắng trận nhưng Italia không thoả mãn với việc phân chiathế giới theo Hoà ước Vecxai. Tham vọng của nước này là muốn mở rộng ảnhhưởng ở vùng Ban căng, chiếm đoạt các thuộc địa ở châu Phi, làm chủ vùng biểnĐịa Trung Hải... Để thoát ra khỏi cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933 và xemxét lại Hệ thống Versailles - Washington có lợi cho mình, giới cầm quyền phát xítở Italia chủ trương quân sự hoá nền kinh tế, tăng cường chạy đua vũ trang và thựchiện chính sách bành trướng xâm lược ra bên ngoài. Thất bại trong việc ký kếtHiệp ước tay tư (Italia - Anh - Đức - Pháp) nhằm xem xét lại đường biên giới đãqui định ở châu Âu trong khuôn khổ Hệ thống hoà ước Vécxai tháng 6 - 1933, từnăm 1934 Mussolini ráo riết chuẩn bị kế hoạch xâm lược, thi hành đạo luật quân sựhoá đất nước. Lúc này quan hệ giữa Italia với Đức còn căng thẳng do mâu thuẫn vềquyền lợi ở vùng Ban căng. Khi Đức đưa ra đạo luật cưỡng bách tòng quân (3 1935), Italia đã kí kết với Anh, Pháp bản Hiệp ước Stresa ngày 14 - 4 - 1935 nhằmthiết lập liên minh chống Đức. Nhưng liên minh này đã nhanh chóng tan vỡ bằngviệc Anh kí với Đức một hiệp ước riêng rẽ về hạn chế lực lượng hải quân (6 1935) và sự kiện Italia chính thức xâm lược Êtiôpia ngày 3 - 10 - 1935. Bốn ngàysau sự kiện này, ngày 7 - 10 - 1935 Hội Quốc Liên ra tuyên bố lên án Italia vàthông qua nghị quyết trừng phạt bằng những biện pháp kinh tế - tài chính. Tuynhiên, “lệnh trừng phạt chỉ làm Italia bực mình chứ không thực sự ngăn cản họ tiếptục các chiến dịch”. Những sự kiện trên đây đã khiến Mussolini rời bỏ liên minhAnh, Pháp, xích lại gần hơn với nước Đức phát xít. Trong khi đó, sự bất lực củaHội Quốc liên cùng với thái độ và hành động thoả hiệp của các nước Anh, Pháp,Mỹ đã khuyến khích hành động xâm lược của phát xít Italia. Sau khi chiếm đượcÊtiôpia, Italia đã ký với Đức Nghị định thư tháng 10 - 1936, đánh dấu sự hìnhthành trục Beclin - Rôma. Bắt đầu từ đây, Đức và Italia tìm cách phối hợp và củngcố liên minh trong cuộc đối đầu với Liên Xô cũng như các đối thủ khác ở châu Âu.Cả hai nước đều đưa quân đội can thiệp trực tiếp và công nhận chính quyền phátxít Franco trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha (1936 - 1939).Hai lò lửa chiến tranh hình thành ở châu Âu bắt đầu có mối liên hệ với lò lửachiến tranh ở Viễn Đông. Ngày 25 - 11 - 1936, Đức và Nhật đã kí kết Hiệp ướcchống Quốc tế cộng sản với những cam kết phối hợp các hoạt động chính trị đốingoại và các biện pháp cần thiết để chống Liên Xô và Quốc tế cộng sản, đồng thờicòn nhằm chống cả Anh, Pháp và Mĩ. Italia tham gia Hiệp ước này ngày 6 - 11 1937. Sự kiện đó đánh dấu Trục phát xít Béclin - Rôma - Tôkiô chính thức hìnhthành. Việc Italia rút ra khỏi Hội Quốc Liên ngày 3 - 12 - 1937 đã hoàn tất quátrình chuẩn bị để các nước khối Trục được tự do hành động, thực hiện kế hoạchgây chiến tranh bành trướng lãnh thổ của mình.2.2.2. Sự can thiệp yếu ớt của Hội quốc liênVào cuối những năm 30 quan hệ quốc tế trở nên vô cùng phức tạp và căngthẳng. Sự chuyển hoá mâu thuẫn giữa các cường quốc tư bản chủ nghĩa đã dẫn tớisự hình thành hai khối đế quốc đối địch nhau: một là, khối Trục phát xít do Đức,Italia, Nhật Bản cầm đầu ; hai là, khối đế quốc do Anh, Pháp, Mĩ cầm đầu. Trongkhi khối Trục phát xít đã ráo riết chuẩn bị cho kế hoạch chiến tranh từ đầu nhữngnăm 30 thì khối đế quốc Anh, Pháp, Mĩ bắt đầu quá trình này vào những năm cuốicủa thập niên 30. Hai khối đế quốc mâu thuẫn gay gắt với nhau về vấn đề thịtrường và quyền lợi nhưng đều thống nhất với nhau trong mục đích chống LiênXô, tiêu diệt Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Điều đó được thểhiện trong chính sách thoả hiệp, dung túng của các cường quốc tư bản với chủnghĩa phát xít nhằm chống Liên Xô và đè bẹp phong trào cách mạng thế giới. Nhưvậy trong quan hệ quốc tế đã diễn ra cuộc đấu tranh ngày càng căng thẳng vàchằng chéo giữa ba lực lượng: Liên Xô, Khối Trục phát xít và Khối đế quốc Anh,Pháp, Mĩ. Các cuộc chiến tranh cục bộ đã lan tràn khắp từ Âu sang Á, từ ThượngHải đến Gibranta. Chiến tranh thế giới ngày càng trở nên khó tránh khỏi.Cuộc chiến tranh Tây Ban NhaCuộc chiến tranh Tây Ban Nha, bùng nổ ngày 17 - 7 - 1936, về hình thức làcuộc nội chiến giữa Chính phủ cộng hoà Tây Ban Nha với lực lượng phát xítPhrancô, nhưng về thực chất là một cuộc khủng hoảng mang tính quốc tế. Vấn đềkhông chỉ giới hạn trong nội bộ nền chính trị Tây Ban Nha. Đức và Italia đã trựctiếp can thiệp, đứng về phía phát xít Phrancô chống lại Chính phủ Cộng hoà vớimưu đồ biến Tây Ban Nha thành một bàn đạp chiến lược cho kế hoạch bành trướngcủa mình ở châu Âu, châu Phi, châu á và Đại Tây Dương. Trong bối cảnh đó, cácchính phủ Anh, Pháp đã thi hành chính sách “không can thiệp” tuyên bố cấm xuấtkhẩu vũ khí và vật liệu chiến tranh sang Tây Ban Nha. Ngày 9 - 9 - 1936, “Uỷ banvề vấn đề không can thiệp” được thành lập. Mĩ không chính thức tham gia vào Uỷban này nhưng trên thực tế cũng duy trì lệnh cấm vận vũ khí đối với Tây Ban Nha.Trong khi không áp dụng một biện pháp cần thiết nào để ngăn chặn sự can thiệptrực tiếp của Đức và Italia ở Tây Ban Nha, chính sách “không can thiệp” của Anh,Pháp, Mĩ về thực chất là hành động thoả hiệp với các lực lượng phát xít chốngnước Cộng hoà Tây Ban Nha. Hơn nữa, các công ti độc quyền của Anh, Pháp, Mĩvẫn tiếp tục có quan hệ thương mại và tài chính với lực lượng phát xít Franco.Cuối cùng, các chính phủ Anh, Pháp đã công khai ủng hộ quân phiến loạn Franco,lực lượng đã chiếm ưu thế rõ rệt ở Tây Ban Nha vào năm 1939.Ngày 10 - 2 - 1939, hải quân Anh đã hỗ trợ cho lực lượng phiến loạn chiếmđảo Minorca nằm trong quần đảo Balearic. Ngay sau đó, chính phủ Pháp đã gửi tốihậu thư cho Chính phủ Cộng hoà Tây Ban Nha với yêu cầu giao nộp Madrid và cácvùng lãnh thổ khác cho lực lượng Phrancô. Ngày 27 - 2 - 1939, Anh và Pháp đồngthời cắt đứt quan hệ ngoại giao với Chính phủ cộng hoà Tây Ban Nha và tuyên bốcông nhận chính quyền Franco. Liên Xô là nước đứng về phía nước Cộng hoà TâyBan Nha trong cuộc đấu tranh chống phát xít. Mặc dù lúc đầu Liên Xô đã tham giaUỷ ban về các vấn đề không can thiệp, nhưng sự can thiệp quân sự của Đức vàItalia đã khiến Liên Xô phải hành động. Cả đất nước Xô viết tham gia phong tràoủng hộ nước Cộng hoà Tây Ban Nha: số tiền quyên góp đã lên tới 47 triệu rúp.Đồng thời, Liên Xô còn tham gia trong lực lượng tình nguyện quốc tế chiến đấubảo vệ nước Cộng hoà đến từ 53 nước trên thế giới. Tuy vậy, do so sánh lực lượngquá chênh lệch, cuộc chiến tranh Tây Ban Nha kết thúc với thất bại của Chính phủCộng hoà. Ngày 28 - 3 - 1939, lực lượng Franco với sự hỗ trợ của quân đội Italiađã chiếm thủ đô Madrid. Sự sụp đổ của nền Cộng hoà Tây Ban Nha cho thấy mốiđe doạ đối với nền hoà bình ở châu Âu ngày càng trở nên trầm trọng hơn.Hội nghị Munich (9 - 1938)Đến năm 1938 nước Đức phát xít về căn bản đã hoàn tất việc chuẩn bị chiếntranh. Lúc này nước Đức không chỉ phục hồi mà đã trở thành một cường quốccông nghiệp đứng đầu châu Âu, đồng thời còn là một cường quốc quân sự. Tháng3-1938, Đức tiến hành thôn tính áo và thông qua đạo luật sáp nhập áo vào Đức, viphạm trắng trợn Hệ thống Hoà ước Versailles. Hành động ngang ngược của Hitlerđã không gặp phải trở ngại nào đáng kể từ phía các cường quốc tư bản phươngTây. Chính phủ Anh chỉ thị không được khuyến khích Áo kháng cự, trong khiPháp chỉ có những phản ứng yếu ớt. Sau khi chiếm áo, Đức chuẩn bị thôn tính TiệpKhắc, một vị trí đặc biệt quan trọng trong kế hoạch giành quyền thống trị lục địachâu Âu. Để thôn tính Tiệp Khắc, Hitle đưa ra “vấn đề người Đức ở vùng Sudete"- vùng đất ở Tây Bắc Tiệp Khắc, có khoảng 3,2 triệu người Đức cư trú. Sau nhữngdiễn biến phức tạp và căng thẳng, Hitle đưa ra yêu sách về việc cắt vùng Xuyđét rakhỏi Tiệp Khắc và khẳng định đây là yêu sách cuối cùng về lãnh thổ của y ở châuÂu. Tiếp tục chính sách thoả hiệp, các cường quốc tư bản phương Tây đã gây áplực thúc ép Tiệp Khắc chấp nhận những yêu sách của Hitler. Điều này đã gây nênmột làn sóng phản đối trong dư luận quốc tế, kể cả ở anh, Pháp, Tiệp Khắc và LiênXô. Liên Xô đã nhiều lần khẳng định sẵn sàng giúp đỡ Tiệp Khắc và đưa ra nhữngbiện pháp cụ thể trong Hội nghị liên tịch giữa Bộ tổng tham mưu Liên Xô, Pháp vàTiệp Khắc. Đồng thời, Liên Xô đã tập trung quân ở biên giới phía Tây và đặt quânđội trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Liên Xô cũng đề nghị Hội Quốc Liên thảoluận những biện pháp để bảo vệ Tiệp Khắc, nhưng tất cả những đề nghị đó đều bịcác chính phủ Anh, Pháp gạt bỏ.Ngày 29 - 9 - 1938, những người đứng đầu các chính phủ Anh, Pháp, Đứcvà Italia đã tham dự Hội nghị Munich (Đức) để quyết định số phận của Tiệp Khắc.Đại biểu Tiệp Khắc không được mời tham dự, chỉ được triệu tập đến để nghe kếtquả. Hiệp ước Munich qui định Tiệp Khắc phải cắt toàn bộ vùng Sudete (trongvòng 10 ngày) cho Đức và phải cắt cho Ba Lan, Hunggari những vùng lãnh thổ đãđược xác định trước đó (trong thời hạn 3 tháng). Trước áp lực của Anh và Pháp,chính phủ Tiệp Khắc chấp nhận Hiệp ước Muyních, theo đó, Tiệp Khắc mất đikhoảng 1/4 dân số, 1/5 lãnh thổ với nhiều công trình quân sự quan trọng. Để đổilại, Hítle đã kí với Anh bản Tuyên bố không xâm lược lẫn nhau giữa Đức và Anh.Sau đó, ngày 6 - 12 - 1938, Hiệp định không xâm lược Pháp - Đức cũng được kíkết tại Pari. Hiệp ước Muyních là đỉnh cao nhất của chính sách thoả hiệp mà cáccường quốc tư bản phương Tây thi hành trong nhiều năm nhằm tránh một cuộcchiến tranh với nước Đức phát xít và chĩa mũi nhọn chiến tranh về phía Liên Xô.“Chính sách Muyních” đã dẫn đến những hậu quả rất nặng nề đối với chính bảnthân hai nước Anh và Pháp. Sự thoả hiệp đầu hàng của các nước này chỉ càng làmcho nước Đức phát xít đi xa hơn nữa trong chính sách mở rộng chiến tranh. Ngày15 - 3 - 1939, Hítle công khai xé bỏ Hiệp ước Muyních chiếm đóng toàn bộ lãnhthổ Tiệp Khắc. Sau đó một tuần, ngày 21 - 3 Hítle đưa ra yêu sách đòi Ba Lan phảitrao thành phố cảng Đăng dích cho Đức. Một ngày sau quân đội Đức tràn vàochiếm vùng lãnh thổ Mêmen của Litva. Đồ ng thời, kế hoạch xâm lược Ba Lancũng được chuẩn bị ráo riết.Trong lúc này phát xít Italia cũng tăng cường hành động. Tháng 4 - 1939Mussolini cho quân xâm lược Anbani. Liên minh phát xít Đức - Italia được mởrộng tới mức tối đa với việc kí kết hiệp ước mới Đức - Italia (thường được gọi làHiệp ước Thép) theo đó nếu một bên có chiến tranh với một nước hoặc một nhómnước khác thì bên kia sẽ tiến hành giúp đỡ ngay lập tức bằng các lực lượng hải, lụcvà không quân. Nguy cơ bùng nổ chiến tranh thế giới chỉ còn là gang tấc, tuy nhiêncác cường quốc phương Tây vẫn tìm mọi cách để hướng cuộc chiến tranh về phíaLiên Xô.Ngày 1-9-1939, Đức tấn công Ba Lan. Chiến tranh thế giới thứ hai chínhthức bắt đầu.Những diễn biến trong quan hệ quốc tế trong những năm 1929-1939 là sựtiếp tục của những xa cách giữa các nước lớn trong vấn vấn đề an ninh tập thể vàgiải trừ quân bị. Chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế 1929-1933 khiến Mỹ,Anh, Pháp cần quan tâm nhiều hơn đến việc giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hộitrong nước (riêng nước Mỹ, họ còn thực hiện chính sách biệt lập, không can thiệpcác vấn đề ngoài châu Mỹ). Họ mất dần khả năng kiểm soát nhiều khu vực trên thếgiới. Mặc dù là những quốc gia đứng đầu Hội quốc liên, nhưng vì sức mạnh kinh tếsuy giảm, họ không thể đưa ra được các biện pháp trừng phạt hữu hiệu, dù là quânsự hay kinh tế, có nguy cơ khiến họ lún sâu hơn vào vũng lầy khủng hoảng. Đây làđiều kiện vô cùng thuận lợi cho Đức, Ý, Nhật vươn lên và dần xóa bỏ các rào cảnchính trị, quân sự theo khuôn khổ trật tự Vécxai – Oasinhtơn. Các nước phát xítcòn có điều kiện tự do hành động nhờ sự dung dưỡng bởi sự cho qua, thờ ơ của cácnước lớn: Mỹ thi hành chính sách biệt lập; Anh, Pháp nhân nhượng hết từ lần nàyđến lần khác, đỉnh cao của sự nhân nhượng trong Hội nghị Muynich. Những toantính của Mỹ, Anh, Pháp hướng đến mong muốn các nước phát xít sẽ chĩa mũi daotiêu diệt Liên Xô – kẻ thù chung của thế giới tư bản. Nhưng không, Đức, Ý, Nhậtđược đà lấn tới và dần xóa bỏ hoàn toàn các cam kết ở Véc xai và Oasinhtơn trongnhững năm 30 của thế kỷ XX. Những cam kết này thực sự vô nghĩa khi chiến tranhbùng nổ. Sự kiện 1-9-1939 vừa là sự bắt đầu cho một cuộc chiến tranh thế giới mới- Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), vừa là mốc đánh dấu sự sụp đổ hoàntoàn của trật tự Vécxai – Oasinhtơn sau 20 năm tồn tại.***Từ những sự kiện đã nêu ở trên, có thể đi đến một số nhận xét sau:- Trật tự Véc xai – Oasinhtơn là trật tự được hình thành trên cơ sở hệ thốnghòa ước Vécxai và hệ thống các hiệp ước Oasinhtơn, phù hợp với tương quan lựclượng giữa các nước đế quốc sau chiến tranh thế giới thứ nhất, song cũng ẩn chứanhiều mâu thuẫn chưa được giải quyết.+ Đây là trật tự của các nước đế quốc thắng trận, chà đạp lên quyền dân tộccủa cả những nước thắng trận và các nước thuộc địa. Nước Đức bị kiệt quệ, lạiphải chịu những điều khoản nghiệt ngã trong hòa ước Vécxai (mất lãnh thổ, mấtdân, mất thuộc địa, chiến phí nặng nề), nên họ luôn nung nấu ý định phục thù.+ Trong trật tự Vécxai – Oasinhtơn, các nước đế quốc chi phối chủ yếu làMỹ, Anh, Pháp. Cơ quan quyền lực quốc tế là Hội quốc liên song vai trò mờ nhạt,và yếu kém trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Lý do quan trọng là sựmâu thuẫn, nghi kỵ giữa các nước đế quốc thắng trận, đặc biệt là giữa Mỹ, Anh,Pháp. (Biểu hiện rõ nhất là nguy cơ đổ vỡ của hội nghị Véc xai, việc giải quyết vấnđề bồi hoàn chiến phí của Đức, việc xử lý các xung đột khu vực do các nước đếquốc phát xít gây ra…).+ Liên Xô không có vị thế quốc thế trong trật tự Vécxai - Oasinhtơn.- Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đã làm sâu sắc thêm những mâuthuẫn của chủ nghĩa đế quốc (ý chí phục thù của Đức, khát vọng thuộc địa của Ývà Nhật, tham vọng duy trì trật tự Vécxai – Oasinhtơn đang có lợi cho mình), dẫntới việc lên cầm quyền của các thế lực phát xít ở Đức, Italia và Nhật Bản. Chủnghĩa phát xít ở ba nước nêu trên, được sự dung dưỡng từ các nước Mỹ, Anh, Phápngày càng lớn mạnh, là kẻ đã xé tan các hòa ước, đưa đến sự sụp đổ hoàn toàn củatrật tự Vécxai – Oasinhtơn, và cũng là tội phạm đã châm ngòi Chiến tranh thế giớithứ hai.- Từ đó, ta có thể nhận định, việc không giải quyết được, thậm chí làm sâusắc hơn các mâu thuẫn giữa các nước đế quốc trong trật tự Vécxai – Oasinhtơnchính là nguyên nhân xâu xa của chiến tranh; còn khủng hoảng kinh tế thế giới1929-1939 là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai.Như vậy, thế giới chỉ được hít thở trong bầu trời hòa bình trong 20 năm ngắnngủi (1919-1939). Trật tự Vécxai – Oasinhtơn thực chất chỉ là “cuộc hưu chiếntrong 20 năm”. Thế giới lại phải chuẩn bị đương đầu với một cuộc chiến tranh thếgiới mới tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại – Chiến tranh thế giới thứ hai (19391945). Đây sẽ mãi là bài học đắt giá cho toàn nhân loại yêu chuộng hòa bình, đừngđể tương lai chúng ta “bên miệng hố chiến tranh” lần nào nữa.