Các cách lý giải nguồn gốc nghệ thuật múa

GD&TĐ – Một câu hỏi khó, mà sau bao thế kỉ các đáp án gần như chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ nhu cầu khám phá của công chúng. 

Các cách lý giải nguồn gốc nghệ thuật múa

Giám tuyển Trần Lương (thứ hai từ trái sang) và các nghệ sĩ trẻ. (Ảnh Nguyễn Xuân Hoàng).

Chỉ ra nguồn gốc và đưa ra các luận điểm chứng minh sự ra đời của nghệ thuật, sẽ được nghệ sĩ – curator nổi tiếng Trần Lương thông qua một Talk nghệ thuật vào ngày 4/7 tới tại Hà Nội.

Dấu hỏi lớn về nguồn gốc nghệ thuật

Sau rất nhiều hội thảo, đánh giá tác động của nghệ thuật đối với xã hội, các chuyên gia đồng ý với nhau về giải thích thời gian nghệ thuật xuất hiện. Theo đó thời điểm nghệ thuật xuất hiện có từ thời xã hội nguyên thuỷ.

Thời đại đồ đá với nghệ thuật hang động cùng những bức vẽ, trạm khắc, tượng đá… biểu hiện cho đời sống săn bắt, hái lượm cũng như tư duy con người.

Giả thuyết này do Aristotte khởi xướng. Ông nói rằng, sự bắt chước của nghệ thuật lấy thế giới tự nhiên bắt chước, tái tạo lại các hiện tượng tự nhiên xã hội. Thuyết này, các chuyên gia cho rằng chỉ đúng về cảm nhận khách quan các hiện tượng tự nhiên mà nghệ thuật phản ánh, tác động ảnh hưởng biểu hiện qua cảm xúc.

Thuyết thứ hai, nghệ thuật ra đời từ trò chơi du hý, do sự hứng khởi của con người nghĩ ra những trò chơi bởi thời gian giải trí dư thừa. Thuyết này, phát xuất ở phương Tây từ đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên trước đó tại Việt Nam, đại thi hào Nguyễn Du có hai câu thơ trong Truyện Kiều gần như một sự trùng lặp: “Lời quê chấp nhặt dông dài/Mua vui cũng được một vài trống canh”.

Nguyễn Du quan niệm thơ ca là nghệ thuật mua vui du hý, làm phong phú tâm hồn con người, tâm sự cùng công chúng. Thuyết này, nhìn vào giá trị nghệ thuật xảy ra các hiện tượng mê hoặc người đọc, người xem hào hứng quên những vất vả bức xúc đời thường, thậm chí âm nhạc giúp mọi người giải trí trực tiếp tại chỗ.

Tại Việt Nam, thuyết tổng sinh lực và sinh lực thừa do một nhóm biên soạn sách giáo khoa cho là học thuyết riêng của bộ môn Nghệ thuật học – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đề xuất.

Theo nhóm biên soạn, thuyết tổng sinh lực và sinh lực thừa, lý giải nguồn gốc nghệ thuật một cách khoa học và đầy đủ. Thuyết này, tiếp thu tất cả thuyết trước đây, họ đưa các thuyết đó vào hệ thống của mình để làm nổi bật nguồn gốc cơ bản nhất của nghệ thuật.

Thuyết tổng sinh lực và sinh lực thừa, dựa trên luận cứ cho rằng, nguồn gốc nghệ thuật là con người khi đạt tới trình độ sáng tạo trong lao động bền bỉ đến lúc làm ra sinh lực thừa. Một nguồn sinh lực trên mức đáp ứng nhu cầu sống sinh học, nảy sinh nhu cầu sống thẩm mỹ. Khi đó nghệ thuật từ cái thực dụng bước ra, tạo nên một hiện tượng độc đáo chỉ riêng loài người mới có.

Ngoài ra, còn một số giả thuyết khác cho rằng, nguồn gốc nghệ thuật sinh ra từ lao động, hay do những người có năng khiếu đặc biệt. Tuy nhiên, gần như các thuyết không đáp ứng tròn vẹn tư duy khám phá của công chúng, nên sự dở dang của các giải thích vẫn bị bỏ ngỏ và trở thành dấu hỏi lớn.

Các cách lý giải nguồn gốc nghệ thuật múa
Nghệ thuật xuất hiện từ thời nguyên thủy, nhưng nghệ thuật bắt nguồn từ đâu?

Talk nghệ thuật tìm về nguồn gốcBuổi trò chuyện về “Nguồn gốc nghệ thuật” nằm trong chuỗi Art talk có tên “Flowing/Chảy”, bắt nguồn từ thái độ thuận tự nhiên mang hơi thở thuyết vô vi của Lão Tử. Talk nghệ thuật giúp công chúng tiếp cận với những kiến thức nền tảng  về nguồn gốc nghệ thuật cũng như điều cốt yếu để tạo nên “nghệ sĩ” và “tác phẩm nghệ thuật”.

Liên quan đến câu hỏi về nguồn gốc của nghệ thuật, nghệ sĩ nổi tiếng Trần Lương sẽ có buổi trò chuyện đưa công chúng nhập hòa vào dòng chảy của nghệ thuật.

Trần Lương được biết đến với vai trò là một nghệ sĩ thị giác, curator độc lập, tiên phong trong quá trình kiến tạo không gian cho nghệ thuật đương đại mang tính phản biện ở Việt Nam.

Các tác phẩm của Trần Lương luôn gắn liền với các kinh nghiệm địa phương, mang tính xã hội phức tạp. Ông còn là một cố vấn luôn sẵn sàng giúp đỡ lớp trẻ, vượt lên khỏi những ý niệm định khuôn về thực hành, khuyến khích nghệ sĩ nới rộng đường biên sáng tác…

Nghệ thuật của Trần Lương tập trung vào sự bền bỉ của con người như một cách thức tiếp sức. Ông cống hiến rất nhiều công sức vào việc phát triển các không gian nghệ thuật, đề xuất dự án, tạo dựng mạng lưới và các cộng đồng tập trung vào nghệ thuật trình diễn và video art ở Việt Nam.

“Tôi trở thành curator vì bao năm nay, họa sĩ chúng tôi đã phải làm việc trong một môi trường thiếu chuyên nghiệp, chứ nếu để mưu cầu danh lợi thì ở Việt Nam, đây là nghề… không ăn lương”, nghệ sĩ Trần Lương cho biết.

Nhiều họa sĩ kể, họ đã từng chứng kiến có những triển lãm đến sát ngày khai mạc phía tổ chức mới cuống lên vì số tranh không đủ hoặc tranh kém chất lượng. Đó là do toàn bộ khâu tổ chức chỉ đơn giản là gửi thông báo và thu lượm tranh.

Trần Lương bắt đầu “hành nghề” từ những năm 1997 – 1998, trở thành một curator đặc biệt – một giám tuyển uy tín. Trong một cuộc triển lãm, nếu ví các họa sĩ như những thành viên của một dàn nhạc giao hưởng thì curator chính là nhạc trưởng, người phải luôn bảo đảm sự cộng hưởng hoàn hảo giữa các nhạc công.

Bản thân thực hành nghệ thuật phong phú và sâu sắc, thế nên góc nhìn của Trần Lương về nghệ thuật và nguồn gốc ra đời của nghệ thuật cũng thật khác lạ. Ông nói rằng, trước đây họa sĩ vẽ tranh với một trái tim trong sáng, ngày thì đi làm, đêm sáng tác. Nhưng khi nền kinh tế thị trường ào tới, thì cuộc sống của nghệ sĩ thay đổi hẳn… và tự nhiên nghệ thuật lại đi theo một hướng khác.

Full PDF PackageDownload Full PDF Package

This Paper

A short summary of this paper

36 Full PDFs related to this paper

Download

PDF Pack

     Chúng ta đang sống trong thế “giới phẳng”, chính vì thế, sự va đập giữa các luồng, nền văn hóa khác nhau là điều không thể né tránh. Hồ hởi, phấn khởi trong việc cách tiếp cận cái mới, nhưng chắc cũng không thể nào tránh khỏi sự e ngại, thậm chí lo lắng cái bản ngã văn hóa của quốc gia, dân tộc dễ bị sao nhãng. Mặt sau của tấm huân chương luôn là mối quan tâm với những cấp độ khác nhau cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã sớm nhận thấy vài trò của văn hóa như một tác nhân thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Đặc biệt vấn đề về bản sắc văn hóa dân tộc đã có định hướng chiến lược, được biểu hiện rõ thông qua Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTƯ Đảng (khóa VIII).

Bản sắc văn hóa dân tộc là gì? Rõ ràng chẳng ai có thể đo đếm theo phương pháp định lượng được mà chỉ nhận diện nó bằng định tính, cảm tính. Đó là tinh thần, cốt cách, trí tuệ, tài năng … của người dân đất Việt. Bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện, biểu hiện trên nhiều phương diện khác nhau, nhưng các loại hình văn hóa nghệ thuật là địa chỉ giàu tiềm năng nhất. Làm gì để giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập, đó là câu hỏi không chỉ dành riêng cho các nhà lãnh đạo, mà ngay các văn nghệ sĩ, nhà nghiên cứu cũng cần phải có lời giải đáp. Trên phương diện một cá thể, là công dân của đất Việt, cố nhà văn Nguyễn Minh Châu từng nói: Hãy đi đến cái tận cùng của ta, ta sẽ gặp nhân loại. Có lẽ đó cũng là một cách “ngoái nhìn” lại lịch sử, tìm cái tinh thần, cốt cách dân tộc để vững tin không đánh mất bản sắc văn hóa trên con đường hội nhập.

Chưa hẳn có cách nhìn giống cố nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhưng qua Lịch sử nghệ thuật múa Việt Nam, tôi đồ rằng, phần nào PGS, TS, NSND Lê Ngọc Canh có những mối băn khoăn trước thực trạng của nghệ thuật múa ở nước ta hiện nay. Và, nghiên cứu lịch sử múa cũng là cách để góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là trách nhiệm cần có của một người làm nghề.

Múa là một loại hình nghệ thuật, nhưng nó không thể đứng độc lập, biệt lập tồn tại như một ốc đảo. Múa là một thành tố văn hóa và có tính văn hóa. Quá trình hình thành và phát triển của nó luôn gắn bó chặt chẽ với quá trình lịch sử của dân tộc. Đặt nghệ thuật múa dưới hệ quy chiếu của văn hóa và lịch sử, sẽ nhận diện được những mối quan hệ giữa múa với các loại hình nghệ thuật, và múa với các ngành khoa học khác. Cách nhìn ấy, cũng chính là thao tác mà tác giả đã chọn để tiếp cận và giải quyết vấn đề. Bởi vậy, những mảnh vụn quý giá của nghệ thuật múa cách xa chúng ta hàng nghìn năm, đã bị thời gian che lấp, nhưng vẫn có thể hiện hữu cũng là nhờ cách tiếp cận ấy.

Cả phần mở đầu của cuốn sách có thể coi như những nét cơ nhất mà người đọc dễ nhận ra dung mạo của nghệ thuật múa Việt Nam được trải dài theo lịch sử. Cho dù lịch sử có bị gián đoạn hay đứt đoạn, dẫu môi truờng sinh hoạt văn hóa nhiều khi không có đất dụng võ cho nghệ thuật múa, nhưng nó vẫn cứ tồn tại và phát triển. Hoặc dẫu tư liệu viết vè múa ở những thời kỳ xa xưa không còn, thì những nhà nghiên cứu vẫn tìm thấy thông tin về nó thông qua các loại hình nghệ thuật anh em, như kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc… Những thông tin, cứ liệu này là cơ sở giúp ích cho các nhà hoạt động chuyên môn nói chung và biên đạo nói riêng trong ngành múa, tránh được những nhận xét hoặc xây dựng hình tượng, ngôn ngữ múa theo kiểu đầu Ngô, mình Sở.

Đặt dưới hệ quy chiếu của lịch sử giữ nước và dựng nước, cũng như lịch sử văn hóa dân tộc, nên nội dung cơ bản của cuốn sách trong phần 1 và phần 2 đều trung thành với một kiểu kết cấu tĩnh: Bối cảnh lịch sử – sinh hoạt văn hóa – nghệ thuật múa. Chỉ bằng cách nhìn như vậy, tác giả Lê Ngọc Canh mới tìm cái động trong cái tĩnh đó. Và, bức tranh của nghệ thuật múa Việt Nam ở từng thời kỳ đã được tái hiện sống động với những cung bậc khác nhau.

Căn cứ vào những hình người được chạm khắc trên trống đồng và nhưng tư liệu khảo cổ học, tác giả cho rằng, ở thời đại Hùng Vương múa được định hình rất sớm. Có tục múa như chàm đuống (đâm đuống), chàm thau (đánh trống đồng). Có cả những điệu múa tồn tại trong dân gian như múa tinh tinh boọc, đánh phết… Nội dung múa thể hiện sự đa dạng về cuộc sống sinh hoạt thường ngày của nhân dân ta thông qua múa cầu mùa, cầu phúc. Tư thế, động tác múa như giã gạo, thổi kèn, chèo thuyền, bắn cung, phóng lao, hòa tấu trống đồng… đều mang tính dứt khoát, và giàu cảm xúc. Nhìn chung, nghệ thuật múa phát triển ở trình độ cao với những đặc điểm riêng biệt, giàu tính cách điệu, ước lệ và có tính thẩm mỹ.

Ở thời kỳ Chăm pa cổ đại thì nghệ thuật múa bao gồm ba hình thái: dân gian, tín ngưỡng và múa cổ. Tuy là ba hình thái, nhưng chúng lại có sự đan xen trong môi trường trình diễn và đều liên quan tới tín nguỡng của người Chăm. Đặc biệt điệu múa quạt (còn gọi là chàm rông, hay tam ta ba ta ri) gồm các tổ hợp múa: pì diền, ka măng, pa tra, ka choang được sử dụng, trình diễn trong nhiều trường hợp khác nhau. Đây là điệu múa tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất trong nghệ thuật múa của người Chăm.

Thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, cũng như các loại hình nghệ thuật khác, múa một mặt vừa ra sức bảo vệ, bảo lưu những giá trị truyền thống, chống sự đồng hóa, mặt khác nhanh chóng tiếp thu những tinh hoa nghệ thuật của phương Bắc, tạo cho nghệ thuật múa Việt Nam thêm phong phú, đa dạng về sắc màu.

Bên cạnh nghệ thuật múa truyền thống, nghệ thuật múa trong lễ hội luôn hiện diện trong mọi sinh hoạt của cộng đồng, thì thời kỳ này múa còn tiếp nhận thêm nhiều yếu tố mới. Sự di cư của các tộc nguời Thái, Dao, Khơ mú, Lô lô… từ phương Bắc và các nơi khác đến sống quần tụ và đan xen với cư dân bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam. Đến, lẽ đương nhiên họ phải mang theo nghệ thuật múa để gieo trồng trên vùng đất mới. Bắt đầu từ thời điểm lịch sử đó, nghệ thuật múa nước ta dung nạp thêm những điệu múa mới, với những sắc màu mới, làm phong phú thêm cho kho tàng nghệ thuật múa Việt Nam.

Trong thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập tự chủ và chống xâm lược, nghệ thuật múa cung đình được hình thành và phát triển. Đây là một hình thái múa mới, liên tiếp phát triển và hoàn thiện qua các triều đại. Múa chủ yếu phục vụ cho đời sống văn hóa nơi cung đình, thường diễn ra trong dịp mừng ngày quốc khánh, mừng thọ, tiếp sứ thần, lễ hội…

Múa cung đình được phát triển trên cơ sở của múa dân gian, đồng thời, nó tiếp nhận có chọn lọc những yếu tố nghệ thuật của Trung Hoa, Ấn Độ, Chăm pa để tạo ra một điện mạo mới. Múa cung đình có tính chuyên nghiệp cao và nâng tầm tới tính bác học, được thể hiện rõ ở tính bài bản, tổ chức, phương thức hoạt động…

Bước sang thời kỳ Pháp đô hộ và thời nhà Nguyễn (theo cách chia của tác giả), nghệ thuật múa cùng hòa vào hành trình của cuộc cách tân sân khấu. Múa vẫn tồn tại và phát triển với các hình thái múa dân gian, cung đình, tín nguỡng, tôn giáo, đặc biệt múa trong lễ hội được phát triển mạnh mẽ. Thời kỳ này, có điều đáng lưu tâm là phong trào quốc tế vũ từ phương Tây du nhập vào Việt Nam, được chấp nhận và phát triển.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nghệ thuật múa Việt Nam thực sự tạo ra một bước ngoặt mới chưa từng có trong lịch sử múa nước nhà. Đội ngũ diễn viên từ nghiệp dư đã chuyển sang chuyên nghiệp. Hệ thống đào tạo bán chính quy, chính quy được mở ra trên một diện rộng nhằm cung cấp diễn viên cho các đoàn văn công chuyên nghiệp.

Những tác phẩm múa thời kỳ này, nội dung phản ánh thường là hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ, dân công hỏa tuyến, tình quân dân… Ngoài ra mảng đề tài về múa dân gian, dân tộc cũng được quan tâm khai thác có chiều sâu. Chất liệu múa của các tộc người Thái, Dao, Cao Lan, Tày, Mường được các nhà biên đạo lẩy, tỉa để đưa vào tác phẩm múa mới, không những nó phù hợp với tâm lý tình cảm công chúng lúc bấy giờ, mà nó còn mang yếu tố bản lề về tư liệu, đường hướng cho sự phát triển của những tác phẩm ở giai đoạn kế tiếp.

Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1954), rồi đất nước thống nhất (1975) và bắt tay vào xây dựng hàn gắn vết thương chiến tranh, gần đây là sự hội nhập văn hóa mang tính toàn cầu, nghệ thuật múa Việt Nam cũng có những bước chuyển phù hợp với hoàn cảnh lịch sử ấy. Ảnh hưởng của hai cuộc giao thoa văn hóa, với các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa thông qua văn hóa Nga, Trung Quốc (những năm nửa sau TK XX), và với toàn cầu (những năm gần đây) là rõ nét, nhưng không làm phai mờ mà càng tôn thêm tính đa dạng nghệ thuật của múa Việt Nam.

Đội ngũ diễn viên, biên đạo ngày càng đông đảo và thể hiện được tính chuyên nghiệp cao. Hàng loạt tác phẩm múa ra đời với nhiều thể loại như múa đơn, múa đôi, kịch múa. Nhiều tác phẩm đã đạt tới đỉnh cao kinh điển của nghệ thuật múa Việt Nam.

Nhìn lại phần lịch sử nghệ thuật múa Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, tác giả đã làm rõ tiến trình, diện mạo cũng như tố chất sẵn có của nghệ thuật múa nước nhà. Đó là một bức tranh có tính tổng hợp cao, liên quan tới nhiều vấn đề, trong đó có những nội dung được tác giả phân tích khá kỹ lưỡng, sâu sắc và toàn diện. Viết về thời kỳ này, với lợi thế là người trong cuộc, nên nhiều sự kiện về văn hóa, chính trị, xã hội, con người, tác phẩm… đều được tác giả điểm xuyết cả về diện lẫn lượng. Rõ ràng, đây là những tư liệu lịch sử rất quý, giúp cho ai quan tâm sẽ hiểu và hình dung một cách hệ thống cơ sở, nền tảng ban đầu của sự nghiệp nghệ thuật múa cách mạng và quá trình phát triển của nó theo dòng chảy lịch sử dân tộc.

Mỗi loại hình nghệ thuật đều cần thiết phải có một cuốn lịch sử để coi đó là cơ sở tầng nền cho sự phát triển về sau này. Nghệ thuật âm nhạc có Âm nhạc mới Việt Nam – tiến trình và thành tựu của nhóm tác giả Tú Ngọc, Nguyễn Thị Nhung, Vũ Tự Lân, Nguyễn Ngọc Oánh, Thái Phiên, có thể coi đây là cuốn về lịch sử của âm nhạc mới Việt Nam trong giai đoạn 1930 -1975. Cuốn sách đã có đóng góp không nhỏ đối với những người làm âm nhạc nói chung và giới nghiên cứu âm nhạc nói riêng. Có lẽ cũng giống như ngành nhạc, ngành múa có Lịch sử nghệ thuật múa Việt Nam, nhưng lại có điều khác, đó là: công trình được trải dài theo lịch sử dân tộc từ thời dựng nước cho đến nay, và chỉ được thực hiện bởi một tác giả.

Theo đánh giá của một số nhà nghiên cứu múa, ngoài tâm huyết của tác giả thì Lịch sử nghệ thuật múa Việt Nam, giá trị không chỉ đơn thuần ở chỗ chỉ phản ánh lịch sử, mà nó còn có một ý nghĩa về mặt học thuật, lý luận, “giúp cho người đọc theo dõi diễn trình lịch sử một cách hệ thống, logic… Đây là công trình nghiên cứu múa Việt Nam có tác dụng lớn không những đối với nghệ thuật chuyên nghiệp, mà còn giúp cho những nhà quản lý, chỉ đạo văn hóa, nghệ thuật không chuyên nghiệp, những nhà nghiên cứu các loại hình nghệ thuật khác một tài liệu tham khảo hữu ích và cần thiết”(1). Và có lẽ, những người thuộc chuyên ngành múa, sau khi đọc Lịch sử nghệ thuật múa Việt Nam của tác giả, sẽ khám phá được thêm nhiều điều bổ ích.

_______________

         1. Lê Ngọc Canh, Lịch sử nghệ thuật múa Việt Nam, Viện VHNT Việt Nam, Nxb Sân khấu, Hà Nội, 2008, tr.670.

Nguồn : Tạp chí VHNT số 298, tháng 4-2009

Tác giả : Nguyễn Thanh